Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về thu thuế GTGT. - Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về thu thuế GTGT trên địa bàn huyện Núi Thành. - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về thu thuế GTGT trên địa bàn huyện Núi Thành. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để phục vụ nghiên cứu dé tài, tác giả đã tham khảo các giáo trình, công trình nghiên cứu liên quan đến thuế và công tác quản lý thuế dưới đây: Phan Huy Đường (2017), “Giáo trình được tác giả biên soạn trên cơ sở đúc kết lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường hiện đại và trong quá trình đổi mới nền kinh tế thị trường định hướng.
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Giáo trình đã khái quát hóa các khái niệm, phạm trù, các yếu tố, bộ phận cấu thành, các chức năng, nguyên tắc, phương, pháp, tổ chức bộ máy thông tin và quyết định quản lý, cán bộ, công chức QLNN về kinh tế. Trong quá trình biên soạn, tác giả đã kế thừa và chọn lọc những kiến thức từ các công trình nghiên cứu, các chuyên đề về QLNN và QLNN về kinh tế kết hợp với những vấn đề lý luận và thực tiễn mới nảy sinh. Giúp hệ thống hóa được các kiến thức QLNN về kinh tế để có cái nhìn rõ hơn về QLNN về kinh tế”[7] Vo Xuan (2013),“Giáo trình đã làm rõ được một số vấn đề về quan điểm về chính sách công đó là những sách lược và kế hoạch cụ thể của Đảng, Nhà nước dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế kinh tế xã hội đề ra nhằm đạt một mục đích nhất định.
Nói cách khác, chính sách công là các quyết định của Đảng và Nhà nước về những cái cần làm và không cần làm. Đó là một chuỗi các hoạt động được giải quyết bởi các nhà quản lý về những vấn đề của xã hội để điều hành và quản lý xã hội phát triển; mục tiêu của chính sách công; các loại chính sách công. [15] Trần Trọng Khoái (2009),“Giáo trình nhận biết được tính tất yếu khách quan của sự ra đời và phát triển cũng như vai trò của thuế đối với nền kinh từ đó thấy được tầm quan trọng của nó đối với mọi hoạt động của nền kinh Trình bày được các yếu tố cầu thành nên một sắc thuế. Phân biệt được các sắc.
thuế trong nền kinh tế hiện nay. Giáo trình cũng đưa ra các ví dụ về sự phát triển của Thuế ở các nước trên thế giới và liên hệ với Việt Nam”[10] Hoàng Mạnh Cừ và Nguyễn Hải Hương (2013), “Giáo trình nêu lên các khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế GTGT. Hệ thống lại các mức thuế suất theo quy định. Nêu lên hiện trạng hệ thống thuế tại Việt Nam và các chính sách quản lý tài chính, quản lý nhà nước về thuế GTGT”[5].
Hà Hữu Dũng (2015),“Giáo trình phân tích về thuế GTGT theo các tiếp. cận khác nhau nhằm làm rõ đối tượng chịu thuế, mức đóng, phương thức đóng và các chế độ liên quan. Thêm vào đó, giáo trình chỉ ra thêm các vấn đề liên quan trực tiếp đến việc gian lận, trốn thuế, khai gian thuế. và những biện pháp khắc phục nhất định”[6] Lê Thị Hồng Lũy (2016),“Nghiên cứu đã làm rõ việc kiểm soát thuế GTGT ở các khâu trong quá trình quản lý thuế GTGT, nhưng các giải pháp đưa ra chủ yếu bám theo các quy trình quản lý thuế, chưa có những giải pháp mang tính thực tế.
Đối với nhóm giải pháp hoàn thiện công tác bộ máy, đây mạnh công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT, công tác thanh tra, kiểm tra và phân tích các chỉ tiêu đánh giá, mặc dù tác giả đã có ý tưởng hoàn thiện vẻ trình độ đội ngũ CBCC thuế và công tác phân tích đánh giá các chỉ tiêu kê khai, tuy nhiên tác giả chưa đề xuất được các giải pháp về bố trí sắp xếp lại các Phòng, Đội cho phù hợp với thực tế hiện nay và các chỉ tiêu phân tích chỉ mang nặng tính lý thuyết , vi các thao tác phân tích chỉ thực hiện thủ công chứ chưa có chương trình, hệ thống hỗ trợ từ máy tính nên mắt nhiều thời gian và công sức, mặt khác số liệu kê khai của các DN không trung thực, chưa đúng với thực tế, do vậy việc phân tích đơn thuần trên hồ sơ khai thuế mà không kiểm tra xem xét các yếu tố có liên quan thì sẽ không mang lại hiệu quả cao”[11] + Phạm Thị Mai (2016), “Nghiên cứu đã trình bày lý luận về các sắc thuế nói chung và thuế GTGT nói riêng, luận văn cũng đã đánh giá được thực trạng công tác quản lý thuế GTGT tại các DN do Cục Thuế tỉnh Quảng Bình quản lý. Nhưng luận văn vẫn chưa phân tích được môi trường ảnh hưởng đến hoạt động quản lý thu thuế GTGT tại địa bàn”[12]. + Vũ Thị Lan Phương (2015),“Luận văn đã mạnh dạn đưa ra hệ thống các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập dự toán thu thuế, đây mạnh công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT, công tác quản lý đăng ký, kê khai và hoàn thuế, hiện đại hóa công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, hoàn thiện công. tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về thuế và các giải pháp khác để hoàn thiện công tác quản lý thu thuế GTGT đối với DNTN góp phần tăng thu 'NSNN trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”[13] + Phan Xuân Quang (2014),“Nghiên cứu đã hệ thống được những vấn đè lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ nói chung và kiểm soát thuế GTGT nói riêng tại các DN trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng.
Tác giả đã nêu được những tồn tại và những vấn đề còn bất cập, chức năng giải quyết thủ tục còn trùng lắp tại các phòng trực thuộc Cục Thuế nhưng không nêu lên được những tồn tại bất cập hiện tại so với các quy trình, quy định được áp dung tai cic Chi Cục Thuế quận, huyện trực thuộc. Các giải pháp mà tác giả đưa ra mặc dù đã có ý tưởng hoàn thiện cơ cấu tổ chức tại các phòng trực thuộc Cục thuế, cũng như các giải pháp về tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế GTGT đối với các DN từ khâu lập kế hoạch, xây dựng các tiêu chí đến công tác thanh tra, kiểm tra tại các DN, chủ yếu dựa vào các quy trình hiện nay. Tuy nhiên, quy trình đó lại không còn phù hợp với thực tế, vẫn còn nhiều tồn tai bat cap, mắt nhiều thời gian và nguồn nhân lực”[14] Các công trình nghiên cứu trên đây đề cập đến công tác quản lý thu thuế GTGT ở cấp chỉ cục đồng thời cũng chỉ ra các kinh nghiệm trong việc cải cách thủ tục hành chính (TTHC) thuế nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thị đồng thời cũng đưa ra một số biện pháp, kiến nghị có ý nghĩa thực tiễn đối với công tác quản lý thu thuế GTGT. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên vẫn chưa xây dựng được đầy đủ bộ tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý thu thuế GTGT, cũng như chưa làm rõ được sự phối hợp giữa các bộ phận chức năng của cơ quan thuế trong công tác quản lý thu thuế GTGT.
Hơn nữa, đối với mỗi địa phương, cấp ngành khác nhau thì việc vận dụng chính sách và áp dụng các giải pháp không giống nhau. Trên địa bàn huyện Núi Thành chưa có công trình nghiên cứu về quản lý thu thuế GTGT. Là một địa bàn huyện đang phát triển, số lượng DN tương đối lớn (số lượng DN đang hoạt động trên toàn huyện (kế cả HTX) tính đến thời điểm 31/12/2019 là 1. Số lượng các DN chiếm tỷ trọng lớn nhưng số nộp NSNN chưa cao; đồng thời số lượng DN ngừng nghỉ, giải thể phá sản hàng năm có xu hướng tăng dần (năm 2019 là 3,95%), việc nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện công tác quản lý thu thuế GTGT đối với DN tại Chi cục thuế huyện Núi Thành mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc góp phần chồng thất thu NSNN.
10 CHUONG 1 CO SO LY LUAN QUAN LY NHA NUOC VE THU THUE GIA TRI GIA TANG 11 IỮNG VẤN ĐÈ CHUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈẺ THU THUE GIA TRI GIA TANG 1. Khái niệm về thuế GTGT Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế GTGT vào năm 1954. Khai sinh từ nước Pháp, thuế GTGT đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Ngày nay, các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, châu Phi, châu Mỹ La Tỉnh và một số quốc gia Châu Á trong đó có Việt Nam đã chính thức áp dụng thuế GTGT.
Các quốc gia khác cũng đang trong thời kỳ nghiên cứu loại thuế này. Ở nước ta, tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khóa 9, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật thuế GTGT và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999. Theo Trần Trọng Khoái (2009) cho rằng: “7huế GTGT còn được gọi là VAT (alue Added Tax) là loại thuế chỉ đánh trên phân giá trị tăng thêm qua mỗi khâu của quá trình SXKD và tổng số thuế thu được ở các khâu chính bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng " [10], Theo Luật Thuế GTGT số 13/2008/QH12, ban hành ngày 03/6/2008 “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng ” [16]. GiGr Tổng giáưj{HHDV _ Tổng giátị HHDV mua bán ra vào tương ứng Số thuế _ — GTGT củaHHDV Thuế suất thuế GTGT của GTGT chịu thuế ` HHDV đó 11 b.
Bản chất của thuế GTGT Thuế GTGT là thuế gián thu, được tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình luân chuyển từ sản xuất, lưu thông. đến tiêu dùng. “Do thué GTGT được tính trên phân giá trị tăng thêm nên dù hàng hóa được mua đi bán lại như thế nào, dù bán cho người tiêu dùng trực tiếp hay đi vòng qua nhiều tháng, nhiều khâu trung gian thì kết quả cuối cùng Nhà nước vẫn thu được một khoản thuế cố định, đó chính là số thuế của toàn bộ giá trị hàng hóa mà người tiêu dùng cuối cùng phải trả. Tức là thuế GTGT đánh trên hành vi tiêu dùng, còn các cơ sở SXKD với tư cách là những nhà trung gian nên không phải là người chịu thuế.
Vì vậy có thể nói, bản chất của thuế GTGT là thuế tiêu dùng và đánh vào ngưi dùng cudi cing.