CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUAN LY NHA NUOC VE RUNG TRONG 1. NHUNG VAN DE CHUNG VE iG TRONG VA QLNN VE RUNG TRONG 1. Một số khái niệm và ý nghĩa của rừng trồng. Khái niệm về rừng Theo Nghị định thư Kyoto năm 1997, thì định nghĩa về rừng được xác định theo các tiêu chí: diện tích tối thiểu 1 0,05 - 1,00 ha; tỷ lệ che phủ tầng tán tối thiểu là 10 - 30%; chiều cao tiềm năng tối thiểu là 2 ~ 5m; rừng non có tiềm năng đáp ứng ba tiêu chí trên.
Với định nghĩa này, cách xác định các diện tích rừng trên thực tế sẽ dễ dàng và chính xác hơn. Tuy nhiên, cần cụ thẻ hóa các tiêu chí xác định rừng trong dự thảo Luật bảo vệ và phát triển rừng theo hướng tiếp cận gần giống với Nghị định thư Kyoto.[8] Trong khi đó, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) lại đưa ra khái niệm “rừng” được sử dụng trong đánh giá tài nguyên rừng toàn cầu của FAO năm 2010 là diện tích đắt đai rộng hơn 0,5 ha trở lên với các loại cây cao hơn 5m và độ che phủ của tán cây đạt hơn 10% hoặc có thé dat đến ngưỡng nay, FAO còn đưa ra các chú giải xác định rừng trồng chủ yếu được sử dụng cho mục đích lâm nghiệp, bảo vệ như các đồn điền cao su và gỗ sồi đứng, nứa cũng được coi là rừng. Như vậy, khái niệm này đã bộc lộ nhiều điểm bắt hợp lý, nhiều chuyên gia lâm nghiệp đã đưa ra ý kiến phản đối khái niệm rừng nêu trên của FAO, họ cho rằng “không chỉ các đồn điền cây độc canh không phải là rừng mà những đồn 3 điền đó còn dẫn đến hay đã dẫn đến phá hủy rừng bản địa của chúng ta và phá hủy những hệ sinh thái quý giá cân bằng khác mà chúng thay thé.Cac chuyên gia lâm nghiệp cho rằng, các đồn điền cây độc canh gây ra tồn thất đa dạng sinh học, thay đổi chu trình nước, sản xuất lương thực giảm, thoái hóa đất, làm mắt các nền văn hóa truyền thống và bản địa, cũng như giảm phong cảnh tự nhiên ở những khu 13 vue du lich [8] Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 của nước ta đưa ra khái niệm về rừng: “là hệ sinh thái bao gồm quần thẻ thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, dat rừng đặc dụng”.[18] Như vậy, khái niệm rừng được quy định trong Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 mang tính liệt kê đầy đủ”và đã đưa ra tiêu chí cụ thể để xác định các diện tích có cây cối được gọi là rừng, đó là: cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực "vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên.
Độ che phủ của tán rừng được xác định là mức độ che”kín của tán cây rừng đối với đất rừng, được biểu thị bằng tỷ lệ phần mười giữa diện tích đất rừng bị tán cây rừng che bóng và”diện tích đất rừng. Tuy nhiên, cách tiếp cận như trên chưa xác định được diện tích tối thiểu có rừng là bao nhiêu, cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ cao như thế nà: Dé phù hợp với điều kiện thực tế trong quá trình thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng hiện nay cần quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng đã trong một diện tích được coi là rừng nếu đạt được cả ba tiêu chí sau: Một là, rừng là một hệ sinh thái, trong đó thành phần chính là các loài cây lâu năm thân”gỗ, cau dừa có chiều cao vút ngọn từ 5,0 m trở lên (trừ rừng mới trồng và một số loài cây rừng ngập mặn ven biển), tre, nứa,. có khả năng, cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các giá trị trực tiếp và gián tiếp khác như bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và cảnh quan. Rừng mới trồng các loài cây thân gỗ và rừng mới tái sinh sau khai thác rừng trồng có chiều cao trung bình”trên 1,5m đối với loài cây sinh trưởng chậm, trên 3,0 m đối với loài cây sinh trưởng nhanh và mật độ từ 1.000 cây/ha trở lên được coi là” rừng.
Các hệ sinh thái nông nghiệp, nuôi trồng ”thủy sản có rải rác một số cây lâu 14 năm là cây thân gỗ, tre, nứa, cau, dừa. không được coi là rừng. Hai là, độ tán che của tán cây là thành phần chính của rừng phải từ 0,1 trở lên. Ba là, diện tích liền khoảnh tối thiểu từ 0,5 ha trở lên, nếu là dải cây rừng phải có chiều rộng tối thiểu 20m và có từ ba hàng cây trở lên [8] b.
Khái niệm và ý nghĩa về rừng trồng. Khái niệm về trồng rừng: Trồng rừng là hệ thống các giải pháp kỹ thuật lâm sinh được áp dụng để xây dựng rừng nhân tạo gồm nhiều công đoạn như khảo sát chuẩn bị, tạo cây giống, trồng và chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng đến đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả muc đích đặt ra. Trồng rừng được áp dụng trên đất không có tính chất đất rừng hoặc đất còn tính chất đất rừng và bao gồm cả nên tảng đất ngập nước ven biển, cửa sông hoặc đầm lây. Tại Thông tư số 38/2014/TT-BNNPTNT ngày 03/11/2014 của Bộ NN&PTNT hướng dẫn về quản lý rừng bền vững quy định các nội dung của trồng rừng gồm các nội dung: - Đối tượng đất trồng rừng: đất trồng không có rừng, đất trồng lại rừng sau khai thác và đất rừng tự nhiên nghèo cần cải tạo được cơ quan có thẩm quyền cho phép; ~ Các chỉ tiêu xác định: diện tích; địa danh (khoảnh, tiểu khu, xã, huyện) trồng mới, chăm sóc hàng năm trong giai đoạn 5 năm đầu và từng giai đoạn 5 năm trong cả luân kỳ; - Phương thức, mật độ, loài cây trồng chính: do chủ rừng tự quyết định; ~ Nhu cầu và nguồn kinh phí thực hiện: do chủ rừng tự quyết định.
Theo quy định tại Khoản 7 Điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017 (có hiệu lực từ 01/01/2019) thì rừng trồng được định nghĩa như sau: Rừng trồng là rừng được hình thành do con người trồng mới trên đất chưa có rừng: cải tạo rừng tự nhiên; trồng lại hoặc tái ¡nh sau khai thác rừng trồng [20] cụ thể như sau: - Rừng trông trên đất chưa có rừng được quy định tại Điều 9 Thông tư 15 34/2009/TT-BNNPTNT quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành như sau:[13] + Đất có rừng trồng chưa thành rừng: là đất đã trồng rừng nhưng cây. trồng có chiều cao trung”bình chưa đạt 1,5 m đối với các loài cây sinh trưởng, “chậm hay 3,0 m đối với các loài cây sinh” trưởng nhanh và mật độ < 1. + Đất trống có cây gỗ tái sinh: là đất chưa có rừng quy hoạch”cho mục đích lâm nghiệp, thực vật che phủ gồm cây bụi, trảng cỏ, lau lách và cây gỗ tái sinh” có chiều cao 0,5 m trở lên đạt tối iu 500 cay/ha + Dat trống “không có cây gỗ tái sinh: là đất chưa có rừng quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp gồm” đất trống trọc, đất có cây bụi, trảng cỏ, lau lách, chuối rừng, chít, ché vé v. + Núi đá không cây: là núi đá trọc hoặc núi đá có cây nhưng chưa đạt tiêu chuẩn thành rừng.
- Tại Khoản 2 Điều 8 Thông tu 29/2018/TT-BNNPTNT, quy định nội dung biện pháp cải tạo rừng tự nhiên là biện pháp lâm sinh thay thế rừng tự nhiên nghèo kiệt có năng suất, chất lượng thắp bằng rừng trằng có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao hơn. [14] + Cải tạo toàn diện: áp dụng đối với các lô rừng có độ dốc dưới 25°, thực hiện biện pháp khai thác trắng trên toàn bộ diện tích lô rừng, giữ lại cây gỗ và cây tái sinh mục đích; trồng rừng theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Thông tư này; + Cải tạo cục bộ theo băng: áp dụng đối với các lô rừng có độ dốc từ 25° trở lên, thực hiện biện pháp khai thác trắng cục bộ theo băng, chiều rộng của băng chặt và băng chừa từ 0§ m đến 12 m; giữ lại cây gỗ và cây tái sinh mục đích trên băng chặt; trồng rừng theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Thông tư này; + Cải tạo cục bộ theo đám: áp dụng đối với các lô rừng có độ lốc từ 25° 16 trở lên, khai thác trắng cục bộ theo đám với diện tích từ 3000 m2 đến 5000 m2; giữ lại cây gỗ và cây tái sinh mục đích; trồng rừng theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Thông tư này; Đối tượng quy định tại Điều này là rừng trồng sản xuất: diện tích tối đa được cải tạo một lần không quá 50 ha trong một tiểu khu rừng; khi cây trồng trên diện tích cải tạo đủ tiêu chí thành rừng, mới được thực hiện ở diện tích rừng khác trong cùng tiểu khu. - Tại Thông tư số 29/2018/TT-BNNPTNT của Bộ NN&PTNT định nghĩa về trằng lại rừng hoặc tái sinh sau khai thác rừng trồng như sau:[ 14] + Trồng lại rừng là biện pháp lâm sinh tạo rừng trên diện tích đất rừng trồng sau khai thác hay bị thiệt hại do thiên tai hoặc do các nguyên nhân khác + Tái sinh sau khai thác rừng trồng có 2 biện pháp như sau: Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên là biện pháp lâm sinh phát huy tối đa khả năng tái sinh, diễn thế tự nhiên để phục hồi rừng bằng các biện pháp bảo vệ, chống chặt phá, phòng cháy và chữa cháy rừng, phát dọn dây leo, cây bụi để thúc đầy thành rừng trong thời hạn xác định Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung là biện pháp lâm sinh phát huy tối đa khả năng tái sinh, diễn thế tự nhiên để phục hồi rừng bằng các biện pháp bảo vệ, chống chặt phá, phòng cháy và chữa cháy rừng và phát dọn dây leo cây bụi, kết hợp với trồng bổ sung một lượng cây nhất định ở nơi thiếu cây tái sinh mục đích để thúc đẩy thành rừng trong thời hạn xác định. Rừng trồng có vai trò quan trọng trong phát triển KT-XH, phát triển nông.
nghiệp và nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái.