Luận văn Thạc sĩ: Quản lý nhà nước về rừng trồng tại huyện Hiệp Đức, Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích quản lý kinh tế rừng trồng tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

115
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh quản lý nhà nước về rừng trồng tại Hiệp Đức

Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế cung cấp một cái nhìn tổng quan và hệ thống về công tác quản lý nhà nước về rừng trồng tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam. Đây là một nhiệm vụ phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để đảm bảo phát triển lâm nghiệp bền vững. Rừng trồng không chỉ là tài nguyên kinh tế mà còn là yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển rừng, điều hòa khí hậu và đảm bảo an sinh xã hội. Hoạt động quản lý của nhà nước bao gồm việc xây dựng chính sách, ban hành pháp luật và sử dụng các công cụ quản lý để điều chỉnh các hoạt động liên quan, hướng tới mục tiêu chung. Sự thành công của công tác này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến năng lực của bộ máy quản lý và nhận thức của người dân. Luận văn của tác giả Đoàn Trọng Đức (2020) đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, xác định rõ vai trò và nội dung của quản lý nhà nước, làm nền tảng cho việc phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp. Một trong những điểm nhấn là việc quản lý phải đảm bảo hài hòa lợi ích giữa nhà nước, chủ rừng và cộng đồng, thúc đẩy kinh tế lâm nghiệp phát triển theo hướng bền vững.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của rừng trồng theo quy định

Theo Luật Lâm nghiệp 2017, rừng trồng được định nghĩa là rừng hình thành do con người trồng mới trên đất chưa có rừng, cải tạo rừng tự nhiên, hoặc trồng lại sau khai thác. Đặc điểm của rừng trồng là mang tính nhân tạo nhưng phát triển theo quy luật tự nhiên, gắn liền với mục tiêu kinh tế và đời sống của cộng đồng dân cư. Tại Hiệp Đức, các mô hình trồng keo lai phổ biến đã và đang đóng góp quan trọng vào sinh kế người dân trồng rừng. Quản lý nhà nước cần nhận diện rõ các đặc điểm này để có chính sách phù hợp, vừa khuyến khích sản xuất, vừa đảm bảo các yếu tố về môi trường.

1.2. Vai trò của quản lý nhà nước trong kinh tế lâm nghiệp

Quản lý nhà nước đóng vai trò kiến tạo và điều tiết, định hướng sự phát triển của ngành lâm nghiệp. Vai trò của chính quyền địa phương thể hiện qua việc ban hành các văn bản pháp quy, xây dựng quy hoạch, tổ chức thực hiện chính sách giao đất giao rừng, và kiểm tra, giám sát. Mục tiêu là tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi, minh bạch để các chủ thể yên tâm đầu tư, phát triển sản xuất. Hoạt động quản lý hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý lâm nghiệp bền vững

Công tác quản lý nhà nước về rừng trồng chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố. Về khách quan, đó là điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội và hệ thống chính sách chung của quốc gia. Về chủ quan, năng lực của bộ máy quản lý, chất lượng nguồn nhân lực và nhận thức của cộng đồng là các yếu tố quyết định. Luận văn nhấn mạnh, việc thiếu vốn đầu tư cho lâm nghiệp hay các chính sách chưa đồng bộ có thể là rào cản lớn. Do đó, để đạt được mục tiêu quản lý lâm nghiệp bền vững, cần có sự phân tích toàn diện các nhân tố này để đưa ra các biện pháp can thiệp phù hợp.

II. Thực trạng quản lý nhà nước về rừng trồng tại Hiệp Đức

Phân tích thực trạng quản lý rừng tại huyện Hiệp Đức giai đoạn 2014-2018 cho thấy những kết quả tích cực bên cạnh nhiều tồn tại, thách thức. Luận văn chỉ ra rằng, diện tích rừng trồng đã góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống người dân. Công tác quản lý nhà nước đã có những chuyển biến, đặc biệt trong việc cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của tỉnh. Tuy nhiên, hiệu quả quản lý vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Những hạn chế lớn được xác định bao gồm: việc sử dụng đất rừng còn manh mún, nhỏ lẻ; công tác quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp thiếu chặt chẽ; hệ thống thông tin quản lý chưa hoàn thiện. Nguyên nhân sâu xa của những bất cập này xuất phát từ hoạt động quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế, như công tác ban hành văn bản còn chồng chéo, thanh tra còn nặng về hình thức, và công tác tuyên truyền chưa thực sự hiệu quả. Những khuyết điểm này đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ và quyết liệt để hoàn thiện công tác quản lý, hướng tới bảo vệ và phát triển rừng một cách bền vững, nâng cao giá trị cho ngành lâm nghiệp địa phương.

2.1. Đánh giá công tác ban hành văn bản pháp luật về rừng

Mặc dù huyện Hiệp Đức đã ban hành nhiều văn bản để chỉ đạo, điều hành công tác quản lý rừng trồng, nhưng theo kết quả khảo sát trong luận văn, việc tổ chức thực hiện còn nhiều bất cập. Một số văn bản còn chồng chéo, chưa thực sự gắn với thực tiễn địa phương. Việc tổng kết, rút kinh nghiệm để điều chỉnh chính sách chưa được thực hiện thường xuyên, dẫn đến hiệu lực quản lý chưa cao. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc tuân thủ pháp luật của các chủ rừng và hiệu quả của các chính sách phát triển rừng trồng.

2.2. Hạn chế trong quy hoạch và kế hoạch phát triển rừng

Công tác xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển rừng trồng tại Hiệp Đức được đánh giá là còn thiếu chặt chẽ. Việc quy hoạch chưa thực sự gắn kết với thị trường tiêu thụ gỗ và công nghiệp chế biến. Tình trạng trồng rừng tự phát, không theo quy hoạch vẫn còn diễn ra, dẫn đến việc phá vỡ cơ cấu cây trồng và gây khó khăn cho việc quản lý, xây dựng chuỗi giá trị gỗ rừng trồng một cách bền vững. Việc công khai quy hoạch để người dân biết và thực hiện cũng là một điểm yếu cần khắc phục.

2.3. Bất cập trong thanh tra và tuyên truyền chính sách

Hoạt động thanh tra, kiểm tra của Chi cục Kiểm lâm Hiệp Đức và các cơ quan chức năng được nhận định là còn mang tính hình thức, chưa đi vào thực chất. Số vụ vi phạm được phát hiện và xử lý chưa phản ánh đúng thực tế. Song song đó, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa đa dạng, chưa phù hợp với trình độ dân trí của một bộ phận người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số. Điều này làm hạn chế ý thức chấp hành pháp luật, ảnh hưởng đến nỗ lực chung trong công tác bảo vệ và phát triển rừng.

III. Giải pháp hoàn thiện chính sách và quy hoạch rừng trồng

Để khắc phục những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về rừng trồng, luận văn đề xuất nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tập trung vào việc hoàn thiện thể chế và công tác quy hoạch. Đây là hai nền tảng cốt lõi, quyết định sự thành công của các hoạt động quản lý trong dài hạn. Việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật cần đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và khả thi, bám sát thực tiễn của huyện Hiệp Đức. Các chính sách cần được xây dựng trên cơ sở lắng nghe ý kiến của người dân và doanh nghiệp. Bên cạnh đó, công tác quy hoạch phải đi trước một bước, mang tính chiến lược và liên ngành. Quy hoạch không chỉ xác định diện tích, loại cây trồng mà còn phải gắn với chuỗi giá trị, từ khâu sản xuất giống, trồng, chăm sóc, khai thác đến chế biến và tiêu thụ. Việc nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan quản lý như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Nam và chính quyền cấp huyện, xã trong việc xây dựng và thực thi chính sách là yếu tố then chốt để các giải pháp này đi vào cuộc sống, tạo ra chuyển biến thực sự.

3.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về lâm nghiệp

Cần rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật do địa phương ban hành để loại bỏ sự chồng chéo, mâu thuẫn. Các quy định cần được cụ thể hóa, dễ hiểu, dễ áp dụng, đặc biệt là các quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, chính sách giao đất giao rừng, và cơ chế hưởng lợi. Việc xây dựng chính sách cần có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và cộng đồng người dân để đảm bảo tính thực tiễn và đồng thuận xã hội cao.

3.2. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch phát triển rừng

Công tác quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cần được thực hiện một cách khoa học, bài bản, dựa trên đánh giá đầy đủ về tiềm năng đất đai, điều kiện khí hậu và nhu cầu thị trường. Quy hoạch cần xác định rõ các vùng trồng rừng gỗ lớn, gỗ nhỏ, vùng trồng cây bản địa có giá trị kinh tế cao. Quan trọng hơn, quy hoạch phải được công bố công khai, minh bạch và có cơ chế giám sát chặt chẽ việc thực hiện, tránh tình trạng điều chỉnh tùy tiện, phá vỡ định hướng phát triển chung.

3.3. Tăng cường vai trò của chính quyền địa phương và các bên

Nâng cao năng lực và trách nhiệm cho cán bộ lâm nghiệp cấp huyện và xã là yêu cầu cấp thiết. Cần phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm. Đồng thời, cần tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư trong việc xây dựng và giám sát thực hiện chính sách phát triển rừng trồng. Vai trò của chính quyền địa phương phải được thể hiện rõ nét trong việc giải quyết các tranh chấp, vướng mắc và hỗ trợ người dân phát triển kinh tế từ rừng.

IV. Phương pháp nâng cao hiệu quả thực thi quản lý rừng trồng

Bên cạnh việc hoàn thiện chính sách, luận văn cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi. Việc thực thi pháp luật hiệu quả là thước đo năng lực của bộ máy quản lý nhà nước. Do đó, cần đổi mới và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra theo hướng đi vào thực chất, tập trung vào các địa bàn trọng điểm, dễ xảy ra vi phạm. Việc xử lý vi phạm phải nghiêm minh, công bằng, không có vùng cấm. Song song, công tác tuyên truyền, giáo dục cần được đẩy mạnh với nội dung và hình thức đa dạng, phù hợp với từng nhóm đối tượng, nhằm nâng cao nhận thức và ý thức tự giác chấp hành pháp luật của người dân. Một giải pháp quan trọng khác là huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Nhà nước cần có chính sách ưu đãi về vốn đầu tư cho lâm nghiệp, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào trồng rừng, chế biến lâm sản. Hỗ trợ kỹ thuật, giống cây trồng chất lượng cao và kết nối thị trường tiêu thụ gỗ cho người dân là những hoạt động thiết thực, giúp nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng và cải thiện đời sống.

4.1. Đẩy mạnh thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm

Cần xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất, có trọng tâm, trọng điểm. Công khai kết quả thanh tra và hình thức xử lý các vụ vi phạm để tăng tính răn đe. Đồng thời, phát huy vai trò giám sát của cộng đồng và các tổ chức đoàn thể trong việc phát hiện, tố giác các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng. Nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm lâm là yếu tố quyết định.

4.2. Cải thiện công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật

Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền như tổ chức hội thảo, tập huấn tại thôn, bản; xây dựng các mô hình trình diễn; sử dụng các phương tiện truyền thông địa phương và mạng xã hội. Nội dung tuyên truyền cần ngắn gọn, dễ hiểu, tập trung vào quyền lợi và trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ và phát triển rừng, cũng như những lợi ích kinh tế, môi trường mà rừng trồng mang lại. Lồng ghép giáo dục pháp luật về lâm nghiệp vào chương trình học tại các trường học trên địa bàn.

4.3. Huy động vốn đầu tư và hỗ trợ sinh kế người dân

Nhà nước cần tạo điều kiện để người dân và doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ưu đãi cho việc trồng rừng gỗ lớn. Bên cạnh đó, cần triển khai các chương trình khuyến lâm, hỗ trợ giống cây chất lượng cao, chuyển giao khoa học kỹ thuật. Xây dựng các mô hình liên kết giữa người trồng rừng và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm để đảm bảo đầu ra ổn định, nâng cao sinh kế người dân trồng rừng và từng bước hình thành chuỗi giá trị gỗ rừng trồng hoàn chỉnh.

V. Mô hình quản lý rừng trồng hiệu quả tại huyện Hiệp Đức

Việc áp dụng đồng bộ các giải pháp được đề xuất trong luận văn sẽ hướng tới xây dựng một mô hình quản lý rừng trồng hiệu quả và bền vững tại huyện Hiệp Đức. Kết quả thực tiễn của mô hình này được kỳ vọng sẽ tạo ra những tác động tích cực trên cả ba phương diện: kinh tế, xã hội và môi trường. Về kinh tế, việc tối ưu hóa chuỗi giá trị gỗ rừng trồng từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sẽ nâng cao giá trị gia tăng, mang lại thu nhập ổn định và cao hơn cho người dân. Về xã hội, mô hình này giúp cải thiện sinh kế người dân trồng rừng, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định an ninh trật tự tại địa phương. Người dân sẽ gắn bó với rừng hơn khi họ thực sự được hưởng lợi từ rừng. Về môi trường, việc phát triển rừng trồng theo quy hoạch, áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến và ưu tiên các loài cây bản địa sẽ làm giảm thiểu tác động môi trường của rừng trồng theo hướng tiêu cực, đồng thời phát huy vai trò của rừng trong việc bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước và ứng phó với biến đổi khí hậu. Đây chính là mục tiêu cuối cùng của quản lý lâm nghiệp bền vững.

5.1. Cải thiện sinh kế người dân và giảm nghèo bền vững

Khi các chính sách được thực thi hiệu quả, người dân sẽ có nguồn thu nhập ổn định từ việc bán sản phẩm gỗ và các lâm sản ngoài gỗ. Việc phát triển các mô hình nông-lâm kết hợp, du lịch sinh thái dưới tán rừng cũng mở ra những hướng đi mới, đa dạng hóa nguồn thu nhập. Điều này không chỉ giúp người dân thoát nghèo mà còn tạo động lực để họ tham gia tích cực vào công tác bảo vệ và phát triển rừng, giảm áp lực khai thác tài nguyên trái phép.

5.2. Tối ưu hóa chuỗi giá trị gỗ rừng trồng tại Quảng Nam

Một mô hình quản lý hiệu quả sẽ thúc đẩy sự liên kết chặt chẽ giữa các khâu trong chuỗi giá trị. Thay vì chỉ bán gỗ dăm, địa phương cần khuyến khích trồng rừng gỗ lớn, thu hút đầu tư vào các nhà máy chế biến sâu để tạo ra các sản phẩm có giá trị cao hơn. Việc xây dựng thương hiệu và chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) cho gỗ rừng trồng Hiệp Đức sẽ giúp mở rộng thị trường tiêu thụ gỗ, nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành lâm nghiệp của tỉnh Quảng Nam.

5.3. Tác động môi trường tích cực của quản lý rừng bền vững

Việc trồng rừng đúng kỹ thuật, lựa chọn loài cây phù hợp và quản lý theo hướng bền vững sẽ giúp tăng độ che phủ, chống xói mòn, bảo vệ nguồn nước và đa dạng sinh học. Rừng trồng không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn đóng vai trò như một “lá phổi xanh”, góp phần giảm phát thải khí nhà kính. Việc đánh giá và giảm thiểu các tác động môi trường của rừng trồng là một nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước, đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và sinh thái.

VI. Định hướng phát triển rừng trồng bền vững tại Hiệp Đức

Luận văn thạc sĩ về quản lý nhà nước về rừng trồng tại huyện Hiệp Đức không chỉ dừng lại ở việc phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp trước mắt, mà còn đưa ra những định hướng mang tính chiến lược cho tương lai. Tầm nhìn đến năm 2030 cho ngành lâm nghiệp Hiệp Đức là phát triển theo hướng bền vững, hiện đại và hiệu quả cao, trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của huyện. Để thực hiện được tầm nhìn này, cần có sự cam kết mạnh mẽ từ chính quyền địa phương và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Các khuyến nghị chính sách đưa ra cần được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Nam và UBND huyện Hiệp Đức xem xét, cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể. Quản lý nhà nước phải chuyển từ can thiệp hành chính sang kiến tạo phát triển, hỗ trợ và đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp. Việc tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, và học hỏi kinh nghiệm từ các địa phương khác là yếu tố không thể thiếu để không ngừng hoàn thiện công tác quản lý, đưa ngành lâm nghiệp Hiệp Đức phát triển lên một tầm cao mới.

6.1. Kết luận chính từ luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế

Công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận, đánh giá một cách khách quan thực trạng quản lý rừng tại Hiệp Đức và chỉ ra những điểm nghẽn cốt lõi. Luận văn khẳng định rằng, để nâng cao hiệu quả quản lý, cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện chính sách, quy hoạch, tăng cường thực thi và huy động nguồn lực. Đây là những đóng góp khoa học có giá trị, làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách tại địa phương.

6.2. Khuyến nghị chính sách cho Sở NN PTNT Quảng Nam

Luận văn đề xuất Sở NN&PTNT Quảng Nam cần tăng cường vai trò chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn cho cấp huyện. Cần xây dựng các chính sách khung của tỉnh về phát triển rừng gỗ lớn, hỗ trợ chứng chỉ rừng, và xúc tiến thương mại cho các sản phẩm gỗ. Đồng thời, Sở cần là cầu nối, điều phối các nguồn vốn đầu tư cho lâm nghiệp và các dự án hỗ trợ kỹ thuật, đảm bảo nguồn lực được phân bổ một cách hợp lý và hiệu quả trên toàn tỉnh, trong đó có huyện Hiệp Đức.

6.3. Tầm nhìn đến năm 2030 cho ngành kinh tế lâm nghiệp

Định hướng phát triển ngành lâm nghiệp Hiệp Đức đến năm 2030 là phải gắn liền với thị trường, tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh cao. Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu từ trồng rừng gỗ nhỏ sang gỗ lớn, phát triển lâm sản ngoài gỗ và dịch vụ môi trường rừng. Xây dựng Hiệp Đức trở thành một vùng nguyên liệu gỗ bền vững, cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến của tỉnh và xuất khẩu, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của địa phương.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý nhà nước về rừng trồng tại huyện hiệp đức tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUAN LY NHA NUOC VE RUNG TRONG 1. NHUNG VAN DE CHUNG VE iG TRONG VA QLNN VE RUNG TRONG 1. Một số khái niệm và ý nghĩa của rừng trồng. Khái niệm về rừng Theo Nghị định thư Kyoto năm 1997, thì định nghĩa về rừng được xác định theo các tiêu chí: diện tích tối thiểu 1 0,05 - 1,00 ha; tỷ lệ che phủ tầng tán tối thiểu là 10 - 30%; chiều cao tiềm năng tối thiểu là 2 ~ 5m; rừng non có tiềm năng đáp ứng ba tiêu chí trên.

Với định nghĩa này, cách xác định các diện tích rừng trên thực tế sẽ dễ dàng và chính xác hơn. Tuy nhiên, cần cụ thẻ hóa các tiêu chí xác định rừng trong dự thảo Luật bảo vệ và phát triển rừng theo hướng tiếp cận gần giống với Nghị định thư Kyoto.[8] Trong khi đó, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) lại đưa ra khái niệm “rừng” được sử dụng trong đánh giá tài nguyên rừng toàn cầu của FAO năm 2010 là diện tích đắt đai rộng hơn 0,5 ha trở lên với các loại cây cao hơn 5m và độ che phủ của tán cây đạt hơn 10% hoặc có thé dat đến ngưỡng nay, FAO còn đưa ra các chú giải xác định rừng trồng chủ yếu được sử dụng cho mục đích lâm nghiệp, bảo vệ như các đồn điền cao su và gỗ sồi đứng, nứa cũng được coi là rừng. Như vậy, khái niệm này đã bộc lộ nhiều điểm bắt hợp lý, nhiều chuyên gia lâm nghiệp đã đưa ra ý kiến phản đối khái niệm rừng nêu trên của FAO, họ cho rằng “không chỉ các đồn điền cây độc canh không phải là rừng mà những đồn 3 điền đó còn dẫn đến hay đã dẫn đến phá hủy rừng bản địa của chúng ta và phá hủy những hệ sinh thái quý giá cân bằng khác mà chúng thay thé.Cac chuyên gia lâm nghiệp cho rằng, các đồn điền cây độc canh gây ra tồn thất đa dạng sinh học, thay đổi chu trình nước, sản xuất lương thực giảm, thoái hóa đất, làm mắt các nền văn hóa truyền thống và bản địa, cũng như giảm phong cảnh tự nhiên ở những khu 13 vue du lich [8] Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 của nước ta đưa ra khái niệm về rừng: “là hệ sinh thái bao gồm quần thẻ thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, dat rừng đặc dụng”.[18] Như vậy, khái niệm rừng được quy định trong Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 mang tính liệt kê đầy đủ”và đã đưa ra tiêu chí cụ thể để xác định các diện tích có cây cối được gọi là rừng, đó là: cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực "vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên.

Độ che phủ của tán rừng được xác định là mức độ che”kín của tán cây rừng đối với đất rừng, được biểu thị bằng tỷ lệ phần mười giữa diện tích đất rừng bị tán cây rừng che bóng và”diện tích đất rừng. Tuy nhiên, cách tiếp cận như trên chưa xác định được diện tích tối thiểu có rừng là bao nhiêu, cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ cao như thế nà: Dé phù hợp với điều kiện thực tế trong quá trình thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng hiện nay cần quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng đã trong một diện tích được coi là rừng nếu đạt được cả ba tiêu chí sau: Một là, rừng là một hệ sinh thái, trong đó thành phần chính là các loài cây lâu năm thân”gỗ, cau dừa có chiều cao vút ngọn từ 5,0 m trở lên (trừ rừng mới trồng và một số loài cây rừng ngập mặn ven biển), tre, nứa,. có khả năng, cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các giá trị trực tiếp và gián tiếp khác như bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và cảnh quan. Rừng mới trồng các loài cây thân gỗ và rừng mới tái sinh sau khai thác rừng trồng có chiều cao trung bình”trên 1,5m đối với loài cây sinh trưởng chậm, trên 3,0 m đối với loài cây sinh trưởng nhanh và mật độ từ 1.000 cây/ha trở lên được coi là” rừng.

Các hệ sinh thái nông nghiệp, nuôi trồng ”thủy sản có rải rác một số cây lâu 14 năm là cây thân gỗ, tre, nứa, cau, dừa. không được coi là rừng. Hai là, độ tán che của tán cây là thành phần chính của rừng phải từ 0,1 trở lên. Ba là, diện tích liền khoảnh tối thiểu từ 0,5 ha trở lên, nếu là dải cây rừng phải có chiều rộng tối thiểu 20m và có từ ba hàng cây trở lên [8] b.

Khái niệm và ý nghĩa về rừng trồng. Khái niệm về trồng rừng: Trồng rừng là hệ thống các giải pháp kỹ thuật lâm sinh được áp dụng để xây dựng rừng nhân tạo gồm nhiều công đoạn như khảo sát chuẩn bị, tạo cây giống, trồng và chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng đến đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả muc đích đặt ra. Trồng rừng được áp dụng trên đất không có tính chất đất rừng hoặc đất còn tính chất đất rừng và bao gồm cả nên tảng đất ngập nước ven biển, cửa sông hoặc đầm lây. Tại Thông tư số 38/2014/TT-BNNPTNT ngày 03/11/2014 của Bộ NN&PTNT hướng dẫn về quản lý rừng bền vững quy định các nội dung của trồng rừng gồm các nội dung: - Đối tượng đất trồng rừng: đất trồng không có rừng, đất trồng lại rừng sau khai thác và đất rừng tự nhiên nghèo cần cải tạo được cơ quan có thẩm quyền cho phép; ~ Các chỉ tiêu xác định: diện tích; địa danh (khoảnh, tiểu khu, xã, huyện) trồng mới, chăm sóc hàng năm trong giai đoạn 5 năm đầu và từng giai đoạn 5 năm trong cả luân kỳ; - Phương thức, mật độ, loài cây trồng chính: do chủ rừng tự quyết định; ~ Nhu cầu và nguồn kinh phí thực hiện: do chủ rừng tự quyết định.

Theo quy định tại Khoản 7 Điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017 (có hiệu lực từ 01/01/2019) thì rừng trồng được định nghĩa như sau: Rừng trồng là rừng được hình thành do con người trồng mới trên đất chưa có rừng: cải tạo rừng tự nhiên; trồng lại hoặc tái ¡nh sau khai thác rừng trồng [20] cụ thể như sau: - Rừng trông trên đất chưa có rừng được quy định tại Điều 9 Thông tư 15 34/2009/TT-BNNPTNT quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành như sau:[13] + Đất có rừng trồng chưa thành rừng: là đất đã trồng rừng nhưng cây. trồng có chiều cao trung”bình chưa đạt 1,5 m đối với các loài cây sinh trưởng, “chậm hay 3,0 m đối với các loài cây sinh” trưởng nhanh và mật độ < 1. + Đất trống có cây gỗ tái sinh: là đất chưa có rừng quy hoạch”cho mục đích lâm nghiệp, thực vật che phủ gồm cây bụi, trảng cỏ, lau lách và cây gỗ tái sinh” có chiều cao 0,5 m trở lên đạt tối iu 500 cay/ha + Dat trống “không có cây gỗ tái sinh: là đất chưa có rừng quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp gồm” đất trống trọc, đất có cây bụi, trảng cỏ, lau lách, chuối rừng, chít, ché vé v. + Núi đá không cây: là núi đá trọc hoặc núi đá có cây nhưng chưa đạt tiêu chuẩn thành rừng.

- Tại Khoản 2 Điều 8 Thông tu 29/2018/TT-BNNPTNT, quy định nội dung biện pháp cải tạo rừng tự nhiên là biện pháp lâm sinh thay thế rừng tự nhiên nghèo kiệt có năng suất, chất lượng thắp bằng rừng trằng có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao hơn. [14] + Cải tạo toàn diện: áp dụng đối với các lô rừng có độ dốc dưới 25°, thực hiện biện pháp khai thác trắng trên toàn bộ diện tích lô rừng, giữ lại cây gỗ và cây tái sinh mục đích; trồng rừng theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Thông tư này; + Cải tạo cục bộ theo băng: áp dụng đối với các lô rừng có độ dốc từ 25° trở lên, thực hiện biện pháp khai thác trắng cục bộ theo băng, chiều rộng của băng chặt và băng chừa từ 0§ m đến 12 m; giữ lại cây gỗ và cây tái sinh mục đích trên băng chặt; trồng rừng theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Thông tư này; + Cải tạo cục bộ theo đám: áp dụng đối với các lô rừng có độ lốc từ 25° 16 trở lên, khai thác trắng cục bộ theo đám với diện tích từ 3000 m2 đến 5000 m2; giữ lại cây gỗ và cây tái sinh mục đích; trồng rừng theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Thông tư này; Đối tượng quy định tại Điều này là rừng trồng sản xuất: diện tích tối đa được cải tạo một lần không quá 50 ha trong một tiểu khu rừng; khi cây trồng trên diện tích cải tạo đủ tiêu chí thành rừng, mới được thực hiện ở diện tích rừng khác trong cùng tiểu khu. - Tại Thông tư số 29/2018/TT-BNNPTNT của Bộ NN&PTNT định nghĩa về trằng lại rừng hoặc tái sinh sau khai thác rừng trồng như sau:[ 14] + Trồng lại rừng là biện pháp lâm sinh tạo rừng trên diện tích đất rừng trồng sau khai thác hay bị thiệt hại do thiên tai hoặc do các nguyên nhân khác + Tái sinh sau khai thác rừng trồng có 2 biện pháp như sau: Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên là biện pháp lâm sinh phát huy tối đa khả năng tái sinh, diễn thế tự nhiên để phục hồi rừng bằng các biện pháp bảo vệ, chống chặt phá, phòng cháy và chữa cháy rừng, phát dọn dây leo, cây bụi để thúc đầy thành rừng trong thời hạn xác định Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung là biện pháp lâm sinh phát huy tối đa khả năng tái sinh, diễn thế tự nhiên để phục hồi rừng bằng các biện pháp bảo vệ, chống chặt phá, phòng cháy và chữa cháy rừng và phát dọn dây leo cây bụi, kết hợp với trồng bổ sung một lượng cây nhất định ở nơi thiếu cây tái sinh mục đích để thúc đẩy thành rừng trong thời hạn xác định. Rừng trồng có vai trò quan trọng trong phát triển KT-XH, phát triển nông.

nghiệp và nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ