Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp ở huyện Chư prông. - Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp tại huyện Chư Prong, tinh Gia Lai - Chương 3: Giải pháp tăng cường và đổi mới công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp tại huyện Chư Prong, tinh Gia Lai 10 CHUONG 1 CƠ SỞ LY LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VE NÔNG NGHIỆP. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP. Khái niệm quản lý nhà nước về nông nghiệp Theo Hoang Sỹ Kim (2007), quản lý nhà nước về lĩnh vực nông nghiệp “là hoạt động sắp xếp, tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương tới địa phương đối với lĩnh vực nông nghiệp trên cơ sở nhận thức vai trò, vị trí và đặc điểm kinh tế-kỹ thuật, chuyên môn của ngành nông nghiệp để khai thác và sử dụng các nguồn lực trong và ngoài nước, nhằm đạt được mục tiêu xác định với hiệu quả cao nhất”.
Nguyễn Văn Chử (2016) định nghĩa quản lý nhà nước là “một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước đề điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tắt cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hi nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội”. Vũ Đình Thắng (2013) cho rằng quản lý nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nông nghiệp thông qua các công cụ kế hoạch, pháp luật và các chính sách để tạo điều kiện và tiền đề, môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất-kinh doanh nông nghiệp hướng tới mục tiêu chung của toàn nền nông nghiệp; xử lý những việc ngoài khả năng tự giải quyết của đơn vị kinh tế trong quá trình hoạt động kinh tế trên tất cả các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp; iết các lợi ích giữa các vùng, các ngành, sản phẩm nông nghiệp, giữa nông nghiệp với toàn bộ nền kinh tế; thực hiện sự kiểm soát đối 11 với tất cả các hoạt động trong nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn làm ồn định và lành mạnh hóa mọi quan hệ kinh tế và xã h Có thể thấy quản lý nhà nước về nông nghiệp là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nông nghiệp thông qua các công cụ kế hoạch, pháp luật và các chính sách để tạo điều kiện, tiền đề, môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh nông nghiệp hướng tới mục tiêu chung của toàn nền nông nghiệp. Như vậy, quản lý nhà nước về nông nghiệp được hiểu là một bộ phan trong quản lý kinh tế quốc dân, thể hiện sự tác động, chỉ phối có định hướng. bằng quyển lực và thông qua bộ máy nhà nhà nước; thực hiện bằng các biện pháp, công cụ quản lý nhằm đạt được các mục tiêu kinh 'u quả xã hội 1.
Đặc điểm của quản lý nhà nước về nông nghiệp a. Quản lý nhà nước về nông nghiệp có tính phức tạp cao Sản xuất nông nghiệp có tính chất liên ngành, diễn ra trên một không. gian rộng lớn, đối tượng luôn thay đổi, gồm nhiều khâu khác nhau từ gây giống, trồng trọt, chăm sóc, thu hoạch, chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Chính những điều này góp phần khiến cho công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp càng phức tạp hơn so với các ngành khác (Vũ Đình Thắng (2013).
Hơn nữa, sự không đồng đều về trình độ sản xuất và quản lý cùng các điều kiện về vật chất kỹ thuật, đa dạng hóa của các vùng sản xuất cũng góp phần khiến cho công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp thêm phức tạp. Quản lý nhà nước về nông nghiệp khó khăn hơn so với các ngành khác Ngành nông nghiệp Việt Nam so với các nước khác trên thế giới chưa được hiện đại hóa nhiều. Việc sử dụng công nghệ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp còn hạn chế. Nhiều địa phương trên cả nước vẫn sử dụng các trang thiết bị sản xuất lạc hậu.
Hơn nữa, nền nông nghiệp Việt Nam chủ yếu nhỏ, 12 lạc hậu, phân tán. Do đó, trong thời đại kinh tế thị trường như hiện nay, khi nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, vận động theo cơ chế thị trường, đã mang. lại khó khăn, thách thức cho công tác quản lý nhà nước về nông nghỉ Việc sản xuất nông nghiệp chủ yếu tại địa bàn nông thôn, miền núi, những nơi có hạ tầng phát triển chậm hoặc chưa phát triển, mức sống dân cư còn thấp, sản xuất manh min; phạm vi hoạt động rộng lớn, đa dạng về địa hình, hoạt động sản xuất diễn ra không giống nhau nên việc phân bổ nguồn lực, nguồn vốn cũng như đầu tư khoa học công nghệ vào nông nghiệp gặp nhiều khó khăn lớn. Chủ thể chính của nông nghiệp là nông dân.
So với các ngành khác, trình độ học vấn của nông dân còn thấp, không đồng đều, họ thiếu vốn nên việc quản lý nhà nước về nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là việc giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm. Tư liệu sản xuất của ngành nông nghiệp chủ yếu là đất đai, nguồn tư liệu không thể thay thế nên khiến cho các nhà quản lý nông nghiệp phải có kế hoạch bảo tồn quỹ đất, đây mạnh nghiên cứu và ứng dụng các khoa học công. nghệ để khai thác nguồn đất một cách hiệu quả. Do đối tượng của ngành nông nghiệp rất rộng, luôn thay đồi, phát sinh.
trong quá trình vận động, phát triển như giống cây trồng, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, thức ăn chăn nuôi,. nên khó xây dựng và ban hành một tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Do đó, việc quản lý nông nghiệp cũng gặp khó khăn. Quản lý nhà nước về nông nghiệp cần sự phối hợp của nhiều cấp, ngành Theo Nguyễn Văn Chử (2016), ngành nông nghiệp được sản xuất tại các địa phương.
Hơn nữa nguồn thu từ nông nghiệp là nguồn thu chủ yếu của da số các nông dân và hoạt động của ngành diễn ra trên một phạm vi rộng lớn 13 nên việc quản lý nhà nước về nông nghiệp phải có sự phối hợp chặt chẽ của nhiều ngành, cấp, đoàn thể, mặt trận để đảm bảo quản lý được sát sao nhằm mục tiêu nâng cao đời sống cho người dân. Hơn nữa, trong ngành nông nghiệp, từ khâu sản xuất, chế biến, tiêu thụ đều cần sự có mặt của các ngành như môi trường, tài nguyên, hạ tầng kỹ thuật, khoa học - công nghệ, tài chính, kế hoạch, công thương nên công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp cần có sự phối hợp chặt chẽ của nhiều ngành, đảm bảo tuân thủ theo quy định và đáp ứng các yêu cầu của thị trường. Vai trò của quản lý nhà nước về lĩnh vực nông nghiệp a. Khắc phục được những khuyết tật do thị trường tạo ra trong quá trình phát triển nông nghiệp Nền nông nghiệp Việt Nam có hình thức sở hữu đa dạng, tương ứng với nhiều hình thức tổ chức sản xuất nên việc nảy sinh sự quan tâm lợi ích giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh, các địa phương hay các vùng khác nhau trên cả nước là điều tất yếu.
Vì mai mê theo đuổi những lợi ích riêng, các đơn vị sản xuất, kinh doanh, các địa phương hay bản thân ngành nông nghiệp có thể bỏ qua lợi ích của đơn vị mình do đó, sẽ vi phạm lợi ích của người khác; gây ảnh hưởng đến lợi ích tương lai. Điều này thể hiện ở việc các hoạt động kinh tế chồng chéo, không hiệu quả, thậm chí triệt tiêu nhau, đất dai, các nguồn tài nguyên bị khai thác bừa bãi,. Do đó, để khắc phục nhược điểm trên, công tác quản lý nhà nước được. thực thi để khắc phục các khuyết tật đó.
Quản lý nhà nước được thực hiện qua việc hoạch định chương trình, kế hoạch liên quan đến từng vùng, từng địa phương, từng thành phần kinh tế, điều tiết các mối quan hệ lợi ích trong quá trình phát triển kinh tế; ban hành, thực hiện các chính sách phù hợp, các luật lệ để xử phạt những đối tượng vi phạm khi tham gia vào các hoạt động kinh tế nông nghiệp (Đỗ Hoàng Toàn, Mai Văn Bưu (2017). Bảo đảm môi trường thuận lợi, an ninh cho phát triển nông nghiệp Nền nông nghiệp hàng hóa chỉ có thể phát triển ổn định trong môi trường kinh tế, văn hóa xã hội, chính trị, đối ngoại thuận lợi và ổn định. Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường lại tạo ra các yếu tố gây cản trở sự phát triển của ngành nông nghiệp như lợi dụng, tận dụng, phá hủy mọi nguồn lực khác để đạt được mục tiêu lợi nhuận như phá rừng trồng cà phê, chuyé: at trồng lúa sang nuôi cá không có kế hoạch cụ thể, buôn lậu vật tư hàng hóa giả, hàng kém chất lượng, ảnh hưởng đến sản xuất và người tiêu dùng, Ngoài ra, còn rất nhiều yếu tố liên quan đến việc phát triển nông nghiệp như khắc nghiệt, bất thường của thời tiết; các loại dịch bệnh, sự kém ổn định chính trị ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên gi Trước những bất ôn trên, buộc phải thực hiện công tác quản lý nhà nước để hạn chế, khống chế, xử lý các vi phạm trên và duy trì, phát huy các mặt tích cực, thuận lợi trong phát triển nông nghiệp. e Nhà nước đảm nhận những mặt, những khâu hay một số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp bằng thực lực của nền kinh tế Nhà nước 'Việc quản lý ngành nông nghiệp không chỉ ở sự điều tiết, khống chế định hướng bằng pháp luật, chính sách, đòn bẩy kinh tế mà còn bằng chính thực lực của kinh tế nhà nước.
Trong nông nghiệp, có nhiều hoạt động mà các tổ chức kinh tế không được phép làm hoặc không làm được. Đó là các hoạt động mà Nhà nước không hoặc khó kiểm soát nhưng xã hội vẫn cần như sản xuất, lưu thông sản phẩm có thê gây hại cho xã hội: khai thác, đánh bắt bừa bãi tài nguyên rừng, biển, đặc biệt là các sản phẩm quý hiếm, bảo tồn, xây dựng các khu rừng cấm quốc gia,.Các hoạt động không làm được chủ yếu là do đơn vị, tổ chức kinh tế không đủ năng lực, điều kiện để làm, thiếu vốn, thiếu phương tiện,. Tuy 15 nhiên, cũng còn có nguyên nhân là do nhà nước không nắm giữ các khâu hoặc hoạt động then chốt trong nông nghiệp, nông thông như công nghệ sinh học, công nghệ sau khi thu hoạch.