CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VA THUC TIEN VE CONG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ NÔNG NGHIỆP 1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ NÔNG NGHIỆP.1 Khái niệm quản lý nhà nước về nông nghiệp - Khái niệm Quản lý: Với ý nghĩa phổ biến thì quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tô chức và định hướng của chủ thể quản lý lên một đối tượng quản lý để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng quản ly theo những mục tiêu đã định. 14-15] ~ Khái niệm Quản lý Nhà nước: Theo giáo trình Lý luận Hành chính nhà nước thì Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ồn định và phát triển của xã hội [6, tr. 16] Như vậy, QLNN là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước và CBCC có thâm quyền, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đối tượng của QLNN là hệ thống các hành vi, hoạt động của con người, các tổ chức con người trong cuộc sống xã hội, bao trùm lên mọi lĩnh vực trong xã hội.
Có thể chia đối tượng của QLNN. theo các lĩnh vực của đời sống xã hội như: Kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. - Khái niệm Nông nghiệp: Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng. và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu đề tạo ra lương thực, ll thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp.
Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông. sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.15] Như vậy, khái niệm Quản lý Nhà nước trong nông nghiệp là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nông nghiệp thông qua các công cụ kế hoạch, pháp luật và các chính sách để tạo điều kiện và tiền đề, môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh nông nghiệp hướng tới mục tiêu chung của toàn nền nông nghiệp; xử lý những việc ngoài khả năng tự giải quyết của đơn vị kinh tế trong quá trình hoạt động Nông nghiệp trên tất cả các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp; điều tiết các lợi ích giữa các vùng, các ngành, sản phẩm nông nghiệp, giữa nông nghiệp với toàn bộ nền kinh tế; thực hiện sự kiểm soát đối với tắt cả các hoạt động trong nền nông nghiệ| 9, tr75] Từ những quan niệm ở trên, luận văn đưa ra khái niệ : quản lý nhà nước về nông nghiệp là một bộ phận trong quản lý kinh tế quốc dân, thẻ hiện sự tác động chỉ phối, có định hướng bằng quyền lực và thông qua bộ máy nhà nước; thực hiện bằng các biện pháp, công cụ quản lý để nông nghiệp đạt được mục tiêu kinh tế, hiệu quả xã hội, sự vận hành phù hợp với các quy luật khách quan.2 Đặc điểm nông nghiệp ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước Mặc dù cũng là ngành sản xuất vật chất, nhưng so với nhiều ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc dân, kinh tế ngành nông nghiệp có những đặc điểm phản ánh tính đặc thù của ngành kinh tế này, đó là: Thứ nhất, tài nguyên đất đai và tài nguyên nước là tư liệu sản xuất chủ yếu, không thể thay thế. Đất đai tham gia vào mọi ngành sản xuất vật chất trong xã hội như là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt; đồng thời là một trong 12 bốn yếu tố cơ bản của qúa trình sản xuất. Khác với nhiều ngành khác, trong.
sản xuất nông nghiệp, tài nguyên đất đai và tài nguyên nước là tư liệu sản xuất chủ yếu, có vai trò quan trọng, không thể thay thế. Nếu không có tài nguyên đất đai và tài nguyên nước, hoặc thiếu một trong hai tài nguyên này, không thể trồng trọt, chăn nuôi; nghĩa là kinh tế ngành nông nghiệp không thể phát triển, thậm chí không có kinh tế ngành nông nghiệp [12]. Thứ ¡ tượng sản xuất của nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi. kinh tế ngành nông nghiệp mang tính đặc thù của một ngành mà đối tượng sản xuất là h vật.
Trong sinh học và sinh thái học, sinh vật là tên gọi chung của các vật sống, bao gồm động vật, thực vật, vi sinh vật,.có trao đổi chất với môi trường ngoài, có sinh đẻ, lớn lên và chết. Điều đó cũng có nghĩa, sinh vật là cơ thể sống(trong thực tế không phải mọi vật sống, hay sinh vật đều mang các đặc trưng trên; một số sinh vật không có khả năng tự chuyển động và phản ứng trực tiếp đối với môi trường; một số vi sinh vật không có khả năng tự sinh sản). Như vậy, có thể tượng sản xuất của nông nghiệp là các vật sống, bao gồm động vật, thực vật, vi sinh vật (gọi chung là cây trồng, vật nuôi). Nói cách khác, đi tượng sản xuất của nông nghiệp là các vật sống, bao.
gồm các loại cây trồng, vật nuôi. kinh tế ngành nông nghiệp gắn với các ngành kinh tế khác trên địa bàn nông thôn; đồng thời chịu sự chỉ phối của nền kinh tế quốc dân. Cây trồng, vật nuôi có quy luật sinh tồn độc lập với ý muốn con người. Cây trồng, vật nuôi chỉ phát triển tốt nhất khi có điều kiện tự nhiên, khí hi nước, phân bón, môi trường phù hợp.
Từ đặc điểm của đối tượng sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi nên con người sẽ có khả năng sử dụng các giải pháp sinh học trong phát triển kinh tế ngành nông nghiệp [12]. Thứ ba, sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao. Trong nông nghiệp, quá trình tái sản xuất tự nhiên liên quan chặt chẽ với quá trình tái sản xuất, 13 thời gian lao động xen kẽ với thời gian sản xuất và không hoàn toàn trùng khớp với thời gian sản xuất, làm cho sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ trong việc sử dụng nguồn lực. Mặt khác, như trên đã đề cập, do đối tượng sản xuất của nông nghiệp là các vật sống (hay sinh vật); mà các vật sống có đặc trưng như chuyển động, trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản và phản ứng trước tác động của môi trường bên ngoài.
Từ đặc trưng trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản. mà các vật sống có chu kỳ sinh trưởng nhất định. Chính chu kỳ sinh trưởng đó đã làm cho sản xuất nông nghiệp có tinh thoi vi à con người đã khai thác tính chất thời vụ của các vật sống dé phát triển kinh tế ngành nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu sống của con người [12]. Thứ tư, nông nghiệp và kinh tế ngành nông nghiệp là lĩnh vực đòi hỏi đầu tư, rủi ro cao.
Đặc điểm của nông nghiệp và kinh tế ngành nông nghiệp là gắn với địa bàn nông thôn, đời sống nông dân; trong khi đó nông thôn là vùng. rộng lớn, chiếm phần lớn diện tích và khoảng 70% dân số, người dân nông thôn vốn cần cù, chịu khó, nhưng cuộc sống vẫn chịu nhiều thua thiệt. Tuy nhiên, để phát triển kinh tế ngành nông nghiệp, đòi hỏi phải bảo đảm đầy đủ é tố khác nhau; trong đó xây dựng kết iu ha tang KT-XH cho khu vực nông nghiệp, nông thôn là điều kiện thiết yếu, cần thiết nhất và phải được tiến hành trước một bước. 'Việc đưa chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp vào thực tiễn động, chịu sự tác động của tố, trong đó các yếu tố về đặc điềm, đặc thù của ngành nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn và quan trọng đến công tác QLNN.
Nghiên cứu sự tác động này một cách khoa học, đưa ra các qui luật vận động của nó, từ đó giúp các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành. nông nghiệp có kinh nghiệm để đề ra được các giải pháp hữu hiệu trong thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp.3 Vai trò của quản lý nhà nước về nông nghiệp Thông qua nhiều chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, Nhà nước ta đã thể hiện được vai trò quản lý nông nghiệp của mình trên cả ba phương diện: định hướng sự phát triển, phân bổ nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong nông nghiệp và điều tiết sự phát triển của nông nghiệp. Để thúc đây nông nghiệp phát triển, Nhà nước ta dựa trên cơ sở pháp luật chung đã đưa ra các quyết định, nghị định, chỉ thị nhằm quy hoạch, đầu tư, hỗ trợ, khuyến khích sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn. Nhà nước tác động đến nông nghiệp bằng những công cụ quản lý chủ yếu, như hệ thống.
pháp luật, các nghị định và các văn bản dưới luật, các chính sách kinh tế và chính sách xã hội. Như vậy vai trò QLNN về nông nghiệp được thể hiện qua các nội dung chủ yếu sau: a. Khắc phục được những khuyết tật do thị trường tạo ra trong quá trình phát triễn nông nghiệp Nền nông nghiệp nước ta dựa trên sự đa dạng hình thức sở hữu và tương. ứng với nhiều hình thức tổ chức sản xuất yếu nảy sinh sự quan tâm lợi ích cá nhân.
ở đây các cá nhân và lợi ích cá nhân được hiểu theo nghĩa rộng nhất bao gồm các chủ thể sản xuất - kinh doanh như các hộ các trang trại, các tổ hợp tác, hợp tác xã, các nhà may cl iến nông sản v. các địa phương hay các vùng khác nhau trên lãnh thô nông nghiệp cả nước; hoặc cũng có thê là ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Trong khi theo đuổi những lợi ích riêng, các đơn vị sản xuất - kinh doanh, các vùng các địa phương hoặc bản thân ngành nông nghiệp có thể không nhìn thấy lợi íchcủa đơn vị, của vùng hay của ngành khác. ở mức độ cao hơn, nếu vì lợi ích cá nhân đến mức vi phạm lợi ích người khác; vì lợi ích hiện tại mà làm ảnh hưởng đến lợi ích tương lai thì xuất hiện sự vụ lợi cá nhân.
Biểu hiện của xu hướng này là các hoạt động kinh tế chồng chéo không hiệu quả thậm chí triệt tiêu lẫn nhau, tình 15 trạng khai thác bừa bãi đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác, tình trạng.