Tổng quan nghiên cứu

Huyện Núi Thành nằm ở phía Nam tỉnh Quảng Nam, sở hữu diện tích tự nhiên 533,96 km2 cùng chiều dài bờ biển hơn 37 km trải dài qua 4 xã trọng điểm gồm Tam Tiến, Tam Hòa, Tam Hải và Tam Quang. Địa phương có lợi thế vượt trội về giao thương và kết nối không gian du lịch khi sở hữu hệ thống giao thông huyết mạch gồm Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam, sân bay Chu Lai và cảng biển Kỳ Hà. Tính đến hết năm 2016, toàn huyện đã bước đầu hình thành trên 5 điểm du lịch tiềm năng, thu hút 46.068 lượt khách với tổng doanh thu đạt khoảng 9 tỷ đồng.

Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh du lịch tại huyện Núi Thành vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Việc triển khai các quy hoạch ngành còn thiếu tính đồng bộ, sản phẩm du lịch phát triển tự phát, cơ sở hạ tầng phục vụ lưu trú còn nghèo nàn và chính sách thu hút đầu tư chưa đủ sức hấp dẫn khi chỉ thu hút được 3 trên tổng số 5 dự án theo kế hoạch năm 2016 (đạt tỷ lệ 60%). Thêm vào đó, bộ máy quản lý nhà nước tại địa phương chưa có phòng ban chuyên trách, dẫn đến hiệu lực thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi hét giá, chèo kéo khách còn hạn chế.

Nghiên cứu tập trung giải quyết mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về kinh doanh du lịch cấp huyện, phân tích toàn diện thực trạng giai đoạn 2012–2016 và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, nâng tốc độ tăng trưởng du lịch bình quân hàng năm đạt trên 15% và tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư 17 xã, thị trấn trên địa bàn huyện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế của Đỗ Hoàn Toản và Mai Văn Bưu (2001), kết hợp cùng lý thuyết kinh tế du lịch của Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2004). Theo đó, quản lý nhà nước đối với kinh doanh du lịch là sự tác động có tổ chức bằng quyền lực nhà nước thông qua hệ thống công cụ pháp luật, chính sách, quy hoạch và kế hoạch nhằm định hướng hoạt động của các chủ thể kinh doanh và du khách đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất.

Khung phân tích của đề tài vận dụng 3 nhóm công cụ quản lý cơ bản gồm công cụ hành chính (ban hành quy chuẩn, cấp phép kinh doanh), công cụ kinh tế (thuế, ưu đãi đầu tư, đòn bẩy tài chính) và công cụ giáo dục tuyên truyền (nâng cao nhận thức văn hóa du lịch cộng đồng). Nghiên cứu chuẩn hóa 4 khái niệm cốt lõi:

  • Hoạt động kinh doanh du lịch: Việc cung ứng liên hoàn các sản phẩm dịch vụ lưu trú, lữ hành, vận chuyển và ăn uống nhằm đáp ứng nhu cầu khách du lịch và tìm kiếm lợi nhuận.
  • Quản lý nhà nước cấp huyện về du lịch: Việc cụ thể hóa các chủ trương, quy hoạch của cấp tỉnh và Trung ương, thực hiện chức năng cấp phép, kiểm tra, kiểm soát thị trường theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13.
  • Quy hoạch phát triển du lịch: Sự phân bổ không gian lãnh thổ và bố trí nguồn lực đầu tư cho các sản phẩm du lịch trong một khung thời gian xác định.
  • Điểm du lịch sinh thái biển đảo: Không gian tự nhiên có ranh giới rõ ràng, chứa đựng tài nguyên du lịch đặc sắc như danh thắng Bàn Than, xã đảo Tam Hải.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập khoa học:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các niên giám thống kê huyện Núi Thành giai đoạn 2012–2016, báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban nhân dân huyện, tài liệu chuyên môn của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam.
  • Dữ liệu sơ cấp: Tiến hành khảo sát thực địa thông qua bảng hỏi cấu trúc từ tháng 9/2017 đến tháng 10/2017. Cỡ mẫu nghiên cứu xác định là N = 70 mẫu khảo sát, bao gồm 45 chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch (khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, đơn vị vận tải) và 25 cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước liên quan đến lĩnh vực du lịch trên địa bàn huyện Núi Thành.

Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có phân tầng được lựa chọn nhằm đảm bảo tính đại diện cho từng loại hình kinh doanh và từng cấp chính quyền địa phương. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ đặc thù số lượng cơ sở kinh doanh du lịch tại Núi Thành còn tương đối tập trung, việc phân tầng giúp thu thập ý kiến chuyên sâu từ cả hai nhóm chủ thể quản lý và đối tượng chịu sự quản lý. Dữ liệu sau khi thu thập được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả (tính toán số trung bình Mean, yếu vị Mode, phương sai), phân tích chỉ số so sánh tốc độ tăng trưởng liên năm và tổng hợp đối sánh với kinh nghiệm thực tế của Thành phố Nha Trang và Thành phố Vũng Tàu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng khách và doanh thu du lịch của huyện Núi Thành tăng trưởng liên tục trong giai đoạn 2012–2016 nhưng mức chi tiêu bình quân còn rất thấp. Năm 2016, huyện đón 46.068 lượt khách du lịch, mang lại doanh thu 9 tỷ đồng. Mức chi tiêu bình quân của một lượt khách chỉ đạt khoảng 195.000 đồng, phản ánh rõ thực trạng nghèo nàn của chuỗi dịch vụ gia tăng và sự thiếu hụt các khu vui chơi giải trí cao cấp.

Thứ hai, kết quả thu hút vốn đầu tư ngoài ngân sách vào lĩnh vực du lịch chưa đạt chỉ tiêu đề ra. Trong năm 2016, toàn huyện chỉ thu hút được 3 doanh nghiệp đầu tư mới trong tổng số 5 dự án dự kiến theo kế hoạch (đạt tỷ lệ 60%). Các điểm đến có tiềm năng sinh thái biển đảo vượt trội như xã đảo Tam Hải, bãi biển Tam Tiến chưa thể hình thành các khu nghỉ dưỡng quy mô lớn do thủ tục giải phóng mặt bằng kéo dài và cơ chế ưu đãi đất đai chưa đủ sức cạnh tranh.

Thứ ba, công tác cấp phép và quản lý tiêu chuẩn kỹ thuật dịch vụ bộc lộ nhiều kẽ hở. Mặc dù quy trình cấp đăng ký kinh doanh được ấn định trong 3 ngày làm việc, cấp giấy chứng nhận an toàn thực phẩm trong 15 ngày và phòng cháy chữa cháy trong 18 ngày, nhưng tỷ lệ cơ sở kinh doanh vi phạm tiêu chuẩn buồng phòng và vệ sinh an toàn thực phẩm qua các đợt thanh tra định kỳ vẫn chiếm từ 20% đến 30% trên tổng số cơ sở được kiểm tra.

Thứ tư, mô hình tổ chức bộ máy quản lý nhà nước còn phân tán và thiếu tính chuyên trách. Khảo sát 25 cán bộ quản lý cho thấy 100% nhân sự phụ trách mảng du lịch cấp huyện tại Phòng Văn hóa - Thông tin phải kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực văn hóa, thể thao, thông tin truyền thông, dẫn đến chất lượng tham mưu chính sách và giám sát thực địa chưa đạt hiệu quả mong muốn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế trên xuất phát từ yếu tố tự nhiên và năng lực quản trị. Về tự nhiên, tính thời vụ biểu hiện rõ rệt khi mùa mưa bão kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 hàng năm, với tần suất chịu ảnh hưởng từ 1 đến 2 cơn bão/năm, gây tê liệt các hoạt động du lịch biển. Về quản trị, chính quyền huyện chưa ban hành được quy chế phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa lực lượng công an, quản lý thị trường và phòng văn hóa thông tin.

Khi đối chiếu với mô hình quản lý của Thành phố Nha Trang (năm 2016 đón trên 1 triệu lượt khách quốc tế, tăng trưởng 123%, thành lập đội thanh niên xung kích hơn 100 người chốt trực 24/24 giờ với kinh phí gần 8 tỷ đồng/năm) và Thành phố Vũng Tàu (9 tháng đầu năm 2015 đón 4,3 triệu lượt khách, doanh thu hơn 1.400 tỷ đồng nhờ công khai niêm yết giá dịch vụ và vận hành đường dây nóng), huyện Núi Thành cần nhanh chóng chuyển đổi phương thức quản lý từ thụ động sang chủ động kiểm soát.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua:

  • Biểu đồ cột biểu diễn tốc độ tăng trưởng lượt khách và doanh thu du lịch giai đoạn 2012–2016 nhằm làm nổi bật độ dốc phát triển của ngành.
  • Biểu đồ tròn cơ cấu các cơ sở lưu trú phân theo hạng phòng để phản ánh mức độ đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng.
  • Bảng ma trận tổng hợp các hành vi vi phạm hành chính (hét giá, thiếu chứng nhận phòng cháy, không niêm yết nội quy) giúp cơ quan quản lý nhận diện điểm nóng cần can thiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hoàn thiện công tác xây dựng và quản lý quy hoạch: Ủy ban nhân dân huyện Núi Thành chủ trì phối hợp với Sở Xây dựng và Sở Du lịch tiến hành rà soát, điều chỉnh quy hoạch chi tiết các phân khu chức năng tại xã đảo Tam Hải và bãi biển Tam Tiến trong giai đoạn 2018–2020. Mục tiêu thu hút từ 5 đến 7 doanh nghiệp chiến lược đầu tư vào cơ sở lưu trú cao cấp từ 3 sao trở lên đến năm 2025.

  2. Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Ủy ban nhân dân huyện thành lập Bộ phận chuyên trách quản lý du lịch trực thuộc Phòng Văn hóa - Thông tin với biên chế từ 3 đến 5 cán bộ có chuyên môn sâu về kinh tế du lịch và quản trị lữ hành. Tổ chức tập huấn nghiệp vụ định kỳ hàng năm cho 100% cán bộ văn hóa cấp xã và thị trấn trước năm 2020.

  3. Chuẩn hóa quy trình cấp phép và siết chặt kỷ cương thanh tra: Phòng Tài chính - Kế hoạch cùng Đội Quản lý thị trường rút ngắn thời gian xử lý thủ tục cấp phép đủ điều kiện kinh doanh xuống dưới 3 ngày làm việc; duy trì tối thiểu 4 đợt thanh tra liên ngành mỗi năm. Đặt mục tiêu 100% cơ sở kinh doanh lưu trú và dịch vụ ăn uống phải niêm yết giá công khai, không để xảy ra tình trạng chèo kéo khách, hét giá tại các bãi tắm.

  4. Đa dạng hóa nguồn lực đầu tư và đẩy mạnh xúc tiến quảng bá: Hội đồng nhân dân huyện bố trí ngân sách thường xuyên trích từ 3% đến 5% nguồn thu phí, lệ phí du lịch hàng năm để phục vụ công tác xúc tiến. Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện triển khai cổng thông tin điện tử du lịch Núi Thành trước năm 2020, chủ động kết nối tour tuyến với các trung tâm du lịch lân cận như Hội An, Mỹ Sơn và huyện đảo Lý Sơn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Lãnh đạo và cán bộ quản lý nhà nước tại Ủy ban nhân dân cấp huyện, Phòng Văn hóa - Thông tin các địa phương ven biển: Vận dụng bộ khung quy trình cấp phép, bài học thanh tra liên ngành và phương pháp kiểm soát giá dịch vụ vào công tác chỉ đạo thực tiễn.
  • Các nhà đầu tư, chủ doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lưu trú, lữ hành: Nắm bắt các quy chuẩn pháp lý về phòng cháy chữa cháy (thời hạn thẩm duyệt 18 ngày), vệ sinh an toàn thực phẩm (thời hạn 15 ngày) và các định hướng quy hoạch không gian biển đảo để tối ưu hóa chiến lược đầu tư.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công, Kinh tế du lịch: Sử dụng luận văn như một công trình tham khảo mẫu mực về phương pháp nghiên cứu kết hợp dữ liệu thứ cấp 5 năm với khảo sát thực địa N = 70 mẫu tại địa bàn cấp huyện.
  • Chuyên viên hoạch định chính sách tại các Sở, Viện nghiên cứu phát triển kinh tế: Khai thác các bài học kinh nghiệm từ Nha Trang, Vũng Tàu và hệ thống giải pháp phân kỳ đến năm 2030 để xây dựng đề án liên kết phát triển kinh tế vùng phía Nam tỉnh Quảng Nam.

Câu hỏi thường gặp

  1. Thực trạng lớn nhất của hoạt động kinh doanh du lịch huyện Núi Thành giai đoạn 2012–2016 là gì? Du lịch Núi Thành có bước tăng trưởng ban đầu với 5 điểm du lịch, năm 2016 đón 46.068 lượt khách và đạt doanh thu 9 tỷ đồng. Tuy nhiên, quy mô kinh doanh còn manh mún, mức chi tiêu bình quân của du khách thấp dưới 200.000 đồng/lượt và chỉ thu hút được 3/5 dự án đầu tư theo kế hoạch.

  2. Yếu tố tự nhiên nào ảnh hưởng tiêu cực nhất đến hoạt động kinh doanh du lịch tại huyện Núi Thành? Khí hậu mang tính hải dương với mùa mưa bão kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 hàng năm là rào cản lớn nhất. Với tần suất chịu ảnh hưởng từ 1 đến 2 cơn bão mỗi năm, các điểm du lịch sinh thái biển đảo như Tam Hải và Tam Tiến thường xuyên bị gián đoạn hoạt động kinh doanh.

  3. Quy trình cấp giấy chứng nhận an toàn thực phẩm và phòng cháy chữa cháy cho cơ sở du lịch mất bao lâu? Theo quy định pháp luật được hệ thống trong luận văn, thời gian cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm là 15 ngày làm việc (5 ngày thẩm xét hồ sơ, 10 ngày thẩm định thực địa). Thời hạn thẩm duyệt giấy chứng nhận đủ điều kiện phòng cháy chữa cháy là 18 ngày làm việc.

  4. Huyện Núi Thành có thể học tập kinh nghiệm quản lý nào từ Thành phố Nha Trang và Vũng Tàu? Núi Thành có thể áp dụng mô hình tổ kiểm tra liên ngành và lực lượng hỗ trợ trật tự du lịch (tương tự đội xung kích hơn 100 người của Nha Trang), đồng thời triển khai đồng bộ đường dây nóng và bắt buộc niêm yết giá công khai các dịch vụ du lịch như kinh nghiệm thành công của Vũng Tàu.

  5. Mục tiêu trọng tâm của các giải pháp quản lý du lịch Núi Thành giai đoạn đến năm 2020 là gì? Mục tiêu là thành lập bộ phận chuyên trách về du lịch trực thuộc Phòng Văn hóa - Thông tin, tăng trưởng lượt khách bình quân 15-20%/năm, chuẩn hóa 100% cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và thu hút tối thiểu 5 dự án đầu tư du lịch sinh thái nghỉ dưỡng quy mô lớn.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh du lịch ở cấp chính quyền địa phương cấp huyện.
  • Đánh giá trung thực thực trạng phát triển du lịch huyện Núi Thành giai đoạn 2012–2016 với mốc đạt 46.068 lượt khách và doanh thu 9 tỷ đồng vào năm 2016.
  • Nhận diện chính xác 4 điểm nghẽn lớn: thiếu bộ phận quản lý chuyên trách, cơ sở vật chất nghèo nàn, thu hút đầu tư mới đạt 60% kế hoạch và tính thời vụ mùa mưa bão sâu sắc.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền với trách nhiệm thực thi của từng phòng ban, phân kỳ thực hiện rõ ràng từ 2018–2020 và định hướng chiến lược đến năm 2030.
  • Vận dụng thành công các bài học thực tiễn về kiểm soát thị trường và giữ gìn trật tự du lịch từ các đô thị biển lớn như Nha Trang và Vũng Tàu.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi Ủy ban nhân dân huyện Núi Thành khẩn trương rà soát quy hoạch không gian biển Tam Hải - Tam Tiến, hoàn thiện hạ tầng kết nối trước năm 2020 và xây dựng cổng thông tin xúc tiến thương mại. Các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp và người dân địa phương cần chung tay hành động để khai phóng tiềm năng 37 km bờ biển, đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế động lực của huyện Núi Thành.