Luận văn thạc sĩ: Quản lý nhà nước về giáo dục mầm non tại Điện Bàn, Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích quản lý kinh tế quản lý nhà nước về giáo dục mầm non trên địa bàn thị xã điện bàn tỉnh quảng nam, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
116
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám phá vai trò quản lý nhà nước về giáo dục mầm non Điện Bàn

Luận văn thạc sĩ về quản lý nhà nước về giáo dục mầm non trên địa bàn thị xã Điện Bàn cung cấp một cái nhìn toàn diện về nền tảng lý luận và ý nghĩa thực tiễn của công tác quản lý. Giáo dục mầm non (GDMN) được xác định là bậc học nền móng trong hệ thống giáo dục quốc dân, đóng vai trò quyết định đến sự hình thành nhân cách và phát triển toàn diện của trẻ. Do đó, hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) trong lĩnh vực này không chỉ là nhiệm vụ của ngành giáo dục mà còn là chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nghiên cứu của tác giả Cao Nguyễn Xuân Nam đã hệ thống hóa các khái niệm cốt lõi như quản lý, QLNN, và GDMN, đồng thời làm rõ các đặc điểm đặc thù của QLNN về GDMN. Các đặc điểm này bao gồm tính quyền lực nhà nước, sự kết hợp giữa quản lý hành chính và chuyên môn, và cơ chế phối hợp giữa Nhà nước và xã hội. Thông qua việc phân tích sâu sắc, luận văn khẳng định rằng một cơ chế quản lý hiệu quả sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ, giúp các cơ sở giáo dục phát triển bền vững, nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ. Hoạt động quản lý này đảm bảo các chủ trương, chính sách của quốc gia được triển khai đồng bộ, từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư, thực hiện thành công mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi và thúc đẩy xã hội hóa giáo dục.

1.1. Tầm quan trọng của giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục

Giáo dục mầm non là giai đoạn vàng trong sự phát triển của con người, đặt nền móng cho các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời. Mục tiêu của GDMN, theo Luật Giáo dục 2005, là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, và hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách. Nghị quyết số 29-NQ/TW cũng nhấn mạnh vai trò chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1. Tại thị xã Điện Bàn, việc nhận thức đúng đắn tầm quan trọng này là kim chỉ nam cho mọi hoạt động quản lý nhà nước, hướng đến việc xây dựng một thế hệ tương lai khỏe mạnh, thông minh và sáng tạo. Sự đầu tư cho GDMN chính là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương và đất nước.

1.2. Các nội dung cốt lõi của quản lý nhà nước về giáo dục

Công tác quản lý nhà nước về giáo dục mầm non bao gồm năm nội dung chính, tạo thành một chu trình quản lý khép kín và hiệu quả. Thứ nhất là ban hành và phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật để tạo hành lang pháp lý thống nhất. Thứ hai là công tác quy hoạch phát triển GDMN, bao gồm quy hoạch mạng lưới trường lớp, đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất. Thứ ba là tổ chức bộ máy quản lý GDMN từ cấp thị xã đến cấp xã, phường. Thứ tư là tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để giám sát và đảm bảo chất lượng. Cuối cùng là xử lý các vi phạm để duy trì kỷ cương. Việc thực hiện đồng bộ các nội dung này giúp đảm bảo sự phát triển hài hòa, cân đối của hệ thống GDMN trên toàn địa bàn thị xã Điện Bàn.

II. Thách thức trong quản lý nhà nước giáo dục mầm non tại Điện Bàn

Phân tích thực trạng tại thị xã Điện Bàn giai đoạn 2012-2017 cho thấy bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, công tác quản lý nhà nước về giáo dục mầm non vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức và hạn chế. Luận văn đã chỉ ra những bất cập mang tính hệ thống, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của GDMN. Một trong những vấn đề nổi cộm là công tác quy hoạch mạng lưới trường lớp chưa theo kịp tốc độ đô thị hóa và gia tăng dân số cơ học, đặc biệt tại các khu công nghiệp như Điện Nam - Điện Ngọc. Tình trạng quá tải tại các trường công lập vẫn diễn ra, trong khi việc phát triển các cơ sở ngoài công lập còn gặp nhiều rào cản về cơ chế, chính sách. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ở một số nơi chưa đáp ứng tiêu chuẩn, ảnh hưởng đến môi trường học tập và phát triển của trẻ. Bên cạnh đó, bộ máy quản lý còn những điểm yếu, sự phối hợp giữa các cấp, các ngành đôi khi chưa đồng bộ. Công tác thanh tra, kiểm tra dù được thực hiện nhưng đôi khi chưa đủ sâu sát để phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm, nhất là ở các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục quy mô nhỏ. Việc xác định rõ các hạn chế này là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp cải thiện.

2.1. Hạn chế trong quy hoạch mạng lưới và cơ sở vật chất

Luận văn chỉ rõ, mặc dù có quy hoạch nhưng việc triển khai còn chậm. Bảng 2.8 trong tài liệu gốc cho thấy kế hoạch đầu tư xây dựng cơ sở vật chất giai đoạn 2011-2015 còn nhiều hạng mục chưa hoàn thành. Quỹ đất dành cho giáo dục ở các khu đô thị mới chưa được ưu tiên đúng mức. Sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực, dẫn đến nơi thừa, nơi thiếu trường lớp. Nhiều trường, đặc biệt là ở các điểm trường lẻ, vẫn còn phòng học tạm, sân chơi chưa đảm bảo an toàn. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia tuy có tăng nhưng vẫn còn thấp so với mục tiêu đề ra, đòi hỏi một sự đầu tư mạnh mẽ và quyết liệt hơn từ chính quyền địa phương.

2.2. Bất cập trong tổ chức bộ máy và công tác thanh tra

Về tổ chức bộ máy, sự phân cấp quản lý giữa UBND thị xã, Phòng GD&ĐT và UBND cấp xã, phường đôi khi còn chồng chéo, chưa rõ trách nhiệm. Năng lực của một bộ phận cán bộ quản lý (CBQL) còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới. Công tác thanh tra, kiểm tra dù được duy trì định kỳ nhưng tần suất còn mỏng. Theo Bảng 2.10, số lượt kiểm tra giai đoạn 2012-2017 tuy nhiều nhưng việc xử lý sau thanh tra chưa triệt để, các vi phạm chủ yếu là về điều kiện vệ sinh, an toàn thực phẩm và trình độ giáo viên ở các cơ sở tư thục. Điều này tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho trẻ và làm giảm sút chất lượng giáo dục.

2.3. Nguyên nhân khách quan và chủ quan của các tồn tại

Các hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Về khách quan, Điện Bàn là một thị xã trẻ, đang trong quá trình đô thị hóa nhanh, tạo áp lực lớn lên hạ tầng xã hội, trong đó có giáo dục. Nguồn ngân sách nhà nước đầu tư cho GDMN còn hạn hẹp. Về chủ quan, nhận thức của một số cấp quản lý và cộng đồng về tầm quan trọng của xã hội hóa giáo dục chưa đầy đủ. Công tác tham mưu, dự báo của các cơ quan chuyên môn đôi khi chưa sát với thực tiễn. Sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể chưa thực sự chặt chẽ, dẫn đến việc triển khai các chính sách còn chậm và thiếu đồng bộ.

III. Giải pháp hoàn thiện quy hoạch giáo dục mầm non tại Điện Bàn

Để khắc phục những tồn tại, luận văn đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về giáo dục mầm non trên địa bàn thị xã Điện Bàn. Các giải pháp này tập trung vào hai nhóm chính: hoàn thiện thể chế, chính sách và tối ưu hóa công tác quy hoạch. Mục tiêu là tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi, minh bạch và một mạng lưới cơ sở giáo dục được phân bổ hợp lý, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Việc củng cố hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cấp địa phương là bước đi đầu tiên, đảm bảo các quy định của trung ương được cụ thể hóa phù hợp với điều kiện thực tế của Điện Bàn. Song song đó, công tác quy hoạch phải được xem là nhiệm vụ trọng tâm, có tầm nhìn dài hạn. Quy hoạch không chỉ dừng lại ở việc xác định số lượng trường, lớp mà còn phải tính đến các yếu tố về chất lượng, bao gồm cơ sở vật chất hiện đại, đội ngũ giáo viên đạt chuẩn và chương trình giáo dục tiên tiến. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ngành quy hoạch, xây dựng, tài chính để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của các kế hoạch phát triển.

3.1. Củng cố công tác ban hành và phổ biến văn bản pháp luật

Giải pháp ưu tiên là rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của UBND thị xã về GDMN. Các văn bản cần rõ ràng, cụ thể hóa các tiêu chuẩn về thành lập trường, điều kiện hoạt động, đặc biệt là đối với các cơ sở ngoài công lập. Cần xây dựng các chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng để thu hút đầu tư tư nhân vào lĩnh vực này, góp phần thực hiện hiệu quả chủ trương xã hội hóa giáo dục. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật đến mọi tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động GDMN để nâng cao ý thức chấp hành và tạo sự đồng thuận trong xã hội.

3.2. Tối ưu hóa quy hoạch phát triển mạng lưới trường lớp GDMN

Công tác quy hoạch mạng lưới trường lớp cần được điều chỉnh dựa trên dự báo chính xác về quy mô dân số và tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của từng phường, xã. Ưu tiên dành quỹ đất sạch tại các khu đô thị, khu công nghiệp để xây dựng trường mầm non. Cần có kế hoạch cụ thể về lộ trình xây mới, nâng cấp, mở rộng các trường hiện có, đảm bảo xóa bỏ phòng học tạm, bán kiên cố. Luận văn nhấn mạnh việc phải quy hoạch đồng bộ giữa trường công lập và tư thục để giảm áp lực cho hệ thống công, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh và đa dạng hóa lựa chọn cho phụ huynh.

IV. Phương pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục mầm non Điện Bàn

Bên cạnh việc hoàn thiện chính sách và quy hoạch, nâng cao hiệu quả thực thi là yếu tố quyết định sự thành công của công tác quản lý nhà nước về giáo dục mầm non. Luận văn đề xuất các giải pháp tập trung vào việc kiện toàn bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ và tăng cường cơ chế giám sát. Một bộ máy quản lý tinh gọn, hoạt động hiệu quả với sự phân công, phân cấp rõ ràng sẽ là nền tảng để triển khai các nhiệm vụ một cách thông suốt. Trọng tâm là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ cán bộ quản lý tại Phòng GD&ĐT đến hiệu trưởng các trường và đội ngũ giáo viên. Đồng thời, công tác thanh tra, kiểm tra phải được đổi mới theo hướng tăng cường tính chủ động, tập trung vào các vấn đề trọng tâm, trọng điểm và xử lý nghiêm các vi phạm. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chỉ đạo, hỗ trợ và giám sát sẽ tạo ra một hệ thống quản lý năng động, linh hoạt, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW. Đây là những bước đi cần thiết để đảm bảo mọi trẻ em trên địa bàn thị xã Điện Bàn đều được tiếp cận với một nền giáo dục mầm non chất lượng.

4.1. Tăng cường hiệu quả công tác thanh tra và xử lý vi phạm

Cần xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm một cách khoa học, bao quát tất cả các loại hình cơ sở GDMN. Nội dung kiểm tra cần toàn diện, từ việc thực hiện chương trình giáo dục, điều kiện cơ sở vật chất, an toàn vệ sinh thực phẩm đến việc thực hiện chế độ chính sách cho giáo viên và trẻ. Phải tăng cường các đợt kiểm tra đột xuất, đặc biệt đối với các nhóm trẻ gia đình và cơ sở tư thục chưa được cấp phép. Kết quả kiểm tra phải được công khai, minh bạch và các hành vi vi phạm phải được xử lý vi phạm nghiêm minh, kịp thời theo quy định của pháp luật để đảm bảo tính răn đe.

4.2. Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển đội ngũ cán bộ

Giải pháp này tập trung vào việc rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy quản lý GDMN các cấp, đảm bảo tinh gọn và hiệu quả. Cần xây dựng quy hoạch và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên mầm non. Nội dung bồi dưỡng cần cập nhật các kiến thức, kỹ năng quản lý hiện đại, phương pháp giáo dục tiên tiến. Luận văn cũng đề xuất cần có chính sách đãi ngộ hợp lý để thu hút và giữ chân đội ngũ giáo viên giỏi, tâm huyết với nghề, coi đây là yếu tố then chốt quyết định chất lượng giáo dục.

V. Đánh giá kết quả quản lý nhà nước về giáo dục mầm non Điện Bàn

Dựa trên phân tích thực trạng, luận văn đã đưa ra những đánh giá khách quan về kết quả đạt được trong công tác quản lý nhà nước về giáo dục mầm non tại thị xã Điện Bàn. Điểm sáng lớn nhất là sự phát triển đáng kể về quy mô mạng lưới trường lớp, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu gửi trẻ của người dân. Đặc biệt, việc thực hiện thành công Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi là một thành tựu nổi bật, góp phần quan trọng vào việc nâng cao mặt bằng dân trí và chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp 1. Tỷ lệ trẻ 5 tuổi đến lớp tăng đáng kể, như số liệu năm học 2016-2017 cho thấy sự gia tăng 1.303 trẻ so với năm 2012-2013. Bên cạnh đó, chủ trương xã hội hóa giáo dục đã bước đầu phát huy hiệu quả. Sự gia tăng nhanh chóng số lượng các trường, nhóm lớp ngoài công lập (từ 2 trường lên 13 trường) đã góp phần giảm tải cho hệ thống trường công, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ giáo dục. Những kết quả này khẳng định sự nỗ lực của các cấp chính quyền và ngành giáo dục thị xã trong việc thực thi các chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển của GDMN trong giai đoạn tiếp theo.

5.1. Thành tựu từ công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

Chương trình phổ cập giáo dục mầm non đã tạo ra một sự chuyển biến tích cực và sâu rộng. Mạng lưới trường lớp được mở rộng, đặc biệt ở các vùng khó khăn. Cơ sở vật chất và trang thiết bị được đầu tư nâng cấp. Đội ngũ giáo viên được bổ sung và nâng cao trình độ chuyên môn. Nhờ đó, hầu hết trẻ 5 tuổi trên địa bàn đều có cơ hội được đến trường, được tiếp cận chương trình giáo dục chuẩn của Bộ GD&ĐT, tạo sự công bằng trong giáo dục và là nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông.

5.2. Hiệu quả từ việc đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục mầm non

Chính sách xã hội hóa giáo dục đã huy động được nguồn lực quan trọng từ xã hội để đầu tư phát triển GDMN. Sự ra đời của các trường mầm non tư thục chất lượng cao không chỉ đáp ứng nhu cầu của một bộ phận phụ huynh có điều kiện kinh tế mà còn tạo ra sự cạnh tranh, thúc đẩy các trường công lập phải không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng. Điều này góp phần làm phong phú thêm môi trường giáo dục, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ trên toàn thị xã.

VI. Hướng đi tương lai cho quản lý giáo dục mầm non tại Điện Bàn

Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, luận văn đã phác thảo những định hướng chiến lược cho tương lai của công tác quản lý nhà nước về giáo dục mầm non trên địa bàn thị xã Điện Bàn đến năm 2030. Hướng đi này tập trung vào việc phát triển GDMN một cách toàn diện, bền vững, lấy chất lượng làm trọng tâm. Mục tiêu tổng quát là xây dựng một hệ thống giáo dục mầm non hiện đại, hội nhập, đảm bảo mọi trẻ em đều được hưởng một nền giáo dục công bằng và chất lượng. Để thực hiện mục tiêu này, các giải pháp đã đề xuất cần được triển khai một cách quyết liệt và đồng bộ. Vai trò của quản lý nhà nước là kiến tạo, định hướng và hỗ trợ thay vì can thiệp hành chính sâu. Cần tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế tham gia phát triển GDMN. Đồng thời, Nhà nước cần tập trung đầu tư cho các khu vực khó khăn, các đối tượng chính sách để đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau. Các kiến nghị của luận văn không chỉ có giá trị cho thị xã Điện Bàn mà còn là kinh nghiệm tham khảo hữu ích cho các địa phương khác có điều kiện tương tự.

6.1. Mục tiêu phát triển giáo dục mầm non Điện Bàn đến năm 2030

Mục tiêu cụ thể đến năm 2030 bao gồm: hoàn thiện mạng lưới trường lớp, đảm bảo đủ chỗ học cho trẻ trong độ tuổi; 100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn trình độ đào tạo; nâng cao tỷ lệ trường mầm non đạt chuẩn quốc gia; tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; phát triển đa dạng các mô hình giáo dục tiên tiến. Trọng tâm là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giúp trẻ phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ và nhân cách.

6.2. Kiến nghị then chốt để nâng cao hiệu quả quản lý bền vững

Luận văn đưa ra các kiến nghị then chốt. Đối với UBND tỉnh Quảng Nam, cần quan tâm phân bổ thêm ngân sách và có cơ chế đặc thù cho các địa phương đang đô thị hóa nhanh như Điện Bàn. Đối với UBND thị xã Điện Bàn, cần chỉ đạo quyết liệt việc thực hiện quy hoạch đất đai cho giáo dục, tăng cường kiểm tra giám sát và có chính sách nhà nước đãi ngộ thỏa đáng cho đội ngũ nhà giáo. Đối với Phòng GD&ĐT, cần chủ động hơn trong công tác tham mưu, đổi mới phương pháp quản lý, và tăng cường hỗ trợ chuyên môn cho các cơ sở giáo dục trên địa bàn.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý nhà nước về giáo dục mầm non trên địa bàn thị xã điện bàn tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản của quản lý nhà nước về giáo. dục mầm non. “Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về giáo dục mầm non tai thi xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giáo dục mam non tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

10 CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN CO BAN CUA QUAN LY NHA NƯỚC VỀ GIÁO DỤC MÀM NON. KHÁI QUÁT QUẦN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC MÀM NON. Một số khái niệm. & Quản lý “Trên thực tế tồn tại nhiều quan niệm về quản lý tùy thuộc vào các cách tiếp cận khác nhau.

Chính sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến sự phong phú về các khái niệm “Quản lý”. Các nhà khoa học trong lĩnh vực quản lý khi nghiên cứu về quản lý cũng đưa ra nhiều cách hiễt khác nhau È quản lý: Đầu thế kỷ 20 một nhà văn, một nha quản lý nỗi tiếng trên thể giới Mary Parker Follett (1868 - 1933) với những cách hiểu về quản lý và quản trị rất khác biệt trong giai đoạn đó và có giá trị về sau này, bà định nghĩa quản lý là "nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác" .Theo cách tiếp cận này thì quản lý là quá trình điều khiển và dẫn hướng tắt cả các bộ phận của một tổ chức trong đó chủ thể quản lý xây dựng các mục tiêu và tổ chức cho người khác thực hiện các mục tiêu mà mình mong muốn. Taylor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó biết rằng họ đã hoàn thành công việc đó một cách tốt nhất và rẻ nhất” Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” Harold Koontz cho rằng: “Quản lý là một dạng thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp nỗ lực cá nhân. nhằm đạt được mục tiêu của nhóm.

Ngoài ra ông còn cho rằng: Mục tiêu của. nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, và sự bắt mãn cá nhà ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [13] " Theo lý thuyết hệ thống: “quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ. thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang.

trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống” [16] Những quan niệm, những cách tiếp cận này phản ánh những khía cạnh. khác nhau của quản lý, thể hiện sự da dạng phong phú của quản lý. Tuy nhiên những quan niệm này đều có những điểm chung cơ bản sau đây: Quan ly là quá trình hướng đến việc đạt được mục tiêu nhất định. Quan ly là quá trình chỉ huy điều khiển hướng dẫn.

Quản lý là quả trình gián tiếp (đạt được mục tiêu thông qua người khác) = Quan ly 1a quá trình tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. “Xác định Chủ thể quản ý Mục tiêu. quản ý Đối trợng | quay | "Thực hiện Hình 1. Sơ đồ khái niệm quan lý Như vậy, quản lý có thể được hiểu là sự tác động của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu định trước mà sự tác động này đều có chủ ý, định hướng có tổ chức của chủ thé, Nội dung của quản lý chính là cách thức hoạt động của chủ thể quản lý, hoạt động quản lý hướng đến đạt những 12 mục tiêu đã được xác định 5.

Quản lý nhà nước Quản lý nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện nhà nước, là sự quản lý. của nhà nước đối với xã hội và công dân. Khái niệm QLNN hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau. *QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các.

cquá trình xã hội và hành vĩ hoạt động của con người do hệ thống cơ quan Nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành dựa trên cơ sở pháp luật để thực hiện luật pháp Nhà nước. QLNN là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước” [7] “Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: *Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chinh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc. XHCN” [15] Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quan lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt.

Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa. “Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp. Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp. “QLNN là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan Nhà nước.

(hoặc các tổ chức xã hội nếu được Nhà nước ủy quyển) được tiến hành trên cơ. l3 sở và để thi hành luật nhằm thực hiện trong cuộc sống hàng ngày các chức năng của Nhà nước trên mọi lĩnh vực hành chính - chính trị, kinh tế, văn hóa - xa hoi” Quản lý nhà nước được đề cập trong đẻ tài này là khái niệm quản lý nhà. nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ 'ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc cl i đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng. quản lý cần thiết của Nhà nước.

Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức. chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu. được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo. cquy định của pháp luật Trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội khi nghiên cứu về QL.NN đều phải xuất phát từ những đặc điểm của QLNN nói chung.

Từ đó, có thể phân biệt được sự khác nhau giữa hoạt động QLNN với các hoạt động khác của Nhà nước và với hoạt động quản lý xã hội của các chủ thể khác. Như vậy có thể hiểu QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành. của cá nhân, tổ chức trên tắt cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan. trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ỗn định và phát triển của xã hội.

e Giáo dực Khái niệm giáo dục: Theo từ điển Giáo dục học thì giáo dục được định. nghĩa như sau: “Giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ bằng tri thức và khái niệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp. 14 với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia hoạt động sản xuất và đời sống xã hội” [1] Qua các định nghĩa, khái niệm, quan điểm của các nhà khoa học ta thấy. được, giáo dục là một hoạt động của xã hội loài người và nó mang tính tắt yếu, bởi thông qua hoạt động này loài người mới có thể tiếp tục tồn tại, cải hoá thé giới và phát triển, hoàn thiện mình trong đời sống xã hội.

Giáo dục có nội hàm rất rộng, nên được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. rộng, giáo dục được hiểu là quá trình trao đổi và chuyển giao trỉ thức của con người theo một quy củ đã được định sẵn. Hiểu theo nghĩa hẹp, giáo dục là một quá trình hình thành nên nhân cách của con người đưới ảnh hướng của hoạt động có mục đích của nhà giáo dục. iiáo dục là một hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự.

phát triển tinh thần, thể chất của một đói tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dẫn dẫn có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [2] Giáo dục và một quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản. xuất, nó được thể hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những. kinh nghiệm lịch sử- xã hội của loài người Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loài người. đục nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiểu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội là quá trình, cách thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của người.

được giáo dục. Giáo dục bao gồm việc dạy học và giáo dục. Dạy học là một hình thức giáo dục đặc biệt quan trong va cần thiết cho sự phát triển trí tuê, hoàn thiện nhân cách học sinh d. Gido duc mim non 'GDMN là bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Giáo dục mằm non 15 thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu. Giáo dục mầm non được chia thành 02 giai đoạn: Nhà trẻ và Mẫu. Giai đoạn nhà trẻ thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo duc trẻ em từ ba tháng đến ba tuổi, giai đoạn mẫu giáo thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm. sóc, giáo dục trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi.

Mục tiêu của Giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chí tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một (Điều 22- Luật giáo dục, 2005) Giáo duc mim non tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ, đặt nền tảng cho việc. học ở các cấp học tiếp theo vả cho việc học tập suốt đời.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ