Luận văn thạc sĩ: Quản lý nhà nước về giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích quản lý kinh tế quản lý nhà nước về giảm nghèo vùng dân tộc tiểu số tỉnh quảng nam, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

112
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý nhà nước giảm nghèo DTTS tỉnh Quảng Nam

Công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thể hiện tính ưu việt của chế độ và sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước. Quảng Nam, một tỉnh có vị trí chiến lược tại vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, sở hữu 9 huyện miền núi, là nơi sinh sống lâu đời của nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số như Cơ Tu, Xơ Đăng, Ca Dong, Bh'noong. Các cộng đồng này chiếm khoảng 9,3% dân số toàn tỉnh và cư trú trên địa bàn chiếm gần 3/4 diện tích tự nhiên, nơi có điều kiện địa hình phức tạp, kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Do đó, việc hoàn thiện công tác quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy giảm nghèo bền vững không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn có giá trị sâu sắc về an ninh - quốc phòng và ổn định xã hội. Giai đoạn 2016-2020, tỉnh đã đạt được những thành tựu quan trọng, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào DTTS giảm đáng kể. Tuy nhiên, kết quả chưa thực sự vững chắc, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng vẫn còn lớn. Luận văn của tác giả Hồ Xuân Danh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và phân tích thực tiễn, từ đó đề xuất các giải pháp chiến lược. Nghiên cứu xác định đối tượng là các vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo, với phạm vi tập trung vào 6 huyện miền núi cao của tỉnh. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một hệ thống quản lý hiệu quả, giúp đồng bào các dân tộc thiểu số vươn lên thoát nghèo, cải thiện đời sống và hòa nhập vào sự phát triển chung của tỉnh và cả nước.

1.1. Bối cảnh và tính cấp thiết của chính sách giảm nghèo

Tính cấp thiết của đề tài “Quản lý nhà nước về giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam” xuất phát từ thực tiễn rằng dù đã có nhiều nỗ lực, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số vẫn ở mức cao. Theo số liệu năm 2019, tỷ lệ này là 41,12% (Quyết định số 344/QĐ-UBND ngày 10/02/2020). Sự chênh lệch mức sống giữa vùng miền núi và đồng bằng có xu hướng gia tăng, tiềm ẩn nguy cơ mất cân bằng về phát triển kinh tế - xã hội. Một số chính sách giảm nghèo triển khai còn gặp khó khăn, hiệu quả chưa như mong đợi, cho thấy những hạn chế nhất định trong công tác quản lý. Vì vậy, việc nghiên cứu sâu sắc để tìm ra giải pháp phù hợp, giúp hộ nghèo vươn lên một cách bền vững là yêu cầu bức thiết. Điều này không chỉ giúp cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người dân mà còn góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vững an ninh chính trị tại địa bàn chiến lược.

1.2. Vai trò cốt lõi của nhà nước trong giảm nghèo bền vững

Vai trò của quản lý nhà nước trong công tác giảm nghèo bền vững là vô cùng quan trọng. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp với điều kiện của vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam. Các chính sách này bao gồm đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, đào tạo nghề, giải quyết việc làm và hỗ trợ trực tiếp cho các hộ nghèo. Thông qua các quy định pháp luật, nhà nước tạo ra một môi trường phát triển ổn định, giúp người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, an sinh xã hội. Đồng thời, nhà nước còn là cầu nối, thu hút sự tham gia của toàn xã hội, từ các doanh nghiệp đến cộng đồng, chung tay hỗ trợ người nghèo. Hoạt động quản lý này giúp thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, thể hiện tính nhân văn và góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

II. Thách thức trong quản lý giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số

Quá trình thực hiện quản lý nhà nước về giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam đối mặt với nhiều thách thức cố hữu và phát sinh. Đầu tiên, các yếu tố tự nhiên và xã hội là rào cản lớn. Địa hình miền núi hiểm trở, bị chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, thiên tai thường xuyên xảy ra gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất và đời sống. Phong tục, tập quán sản xuất lạc hậu, du canh du cư vẫn còn tồn tại ở một số nơi. Thứ hai, thực trạng nghèo tại các huyện miền núi mang tính đa chiều và phức tạp. Kết quả khảo sát cho thấy nguyên nhân nghèo chủ yếu đến từ việc thiếu kiến thức làm ăn (26%), thiếu đất sản xuất (22,5%), và không có việc làm (19%). Điều này cho thấy các chính sách hỗ trợ cần được thiết kế đa dạng hơn, không chỉ tập trung vào hỗ trợ vốn. Thứ ba, năng lực của bộ máy quản lý và đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo ở cơ sở còn hạn chế. Việc triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia đôi khi còn chồng chéo, manh mún, chưa tạo được sức mạnh tổng hợp. Công tác giám sát, kiểm tra chưa được thực hiện thường xuyên, dẫn đến việc sử dụng nguồn lực chưa hiệu quả, thậm chí xảy ra sai phạm. Những thách thức này đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ và quyết liệt để công tác giảm nghèo bền vững thực sự đi vào chiều sâu và mang lại hiệu quả lâu dài.

2.1. Thực trạng nghèo và nguyên nhân chính ở hộ nghèo DTTS

Thực trạng nghèo đói tại vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam vẫn còn nhức nhối dù tỷ lệ đã giảm. Giai đoạn 2015-2019, tỷ lệ hộ nghèo DTTS giảm từ 67,22% xuống 41,12%. Tuy nhiên, con số tuyệt đối vẫn còn lớn. Kết quả phỏng vấn 200 hộ nghèo tại 6 huyện miền núi cho thấy nguyên nhân nghèo rất đa dạng. Thiếu kiến thức làm ăn chiếm tỷ lệ cao nhất (26%), cho thấy người dân chưa được trang bị đủ kỹ năng sản xuất hiệu quả. Thiếu đất sản xuất (22,5%) là rào cản lớn đối với các hộ chủ yếu sống bằng nghề nông. Bên cạnh đó, thiếu việc làm (19%) và thiếu vốn (15%) cũng là những nguyên nhân quan trọng. Tình trạng này phản ánh sự thiếu hụt các điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế hộ gia đình, đòi hỏi các chính sách giảm nghèo phải giải quyết đồng bộ các vấn đề này.

2.2. Hạn chế trong bộ máy và việc triển khai chính sách

Bộ máy tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo từ cấp tỉnh đến xã còn bộc lộ một số hạn chế. Năng lực của một bộ phận cán bộ cơ sở, đặc biệt là ở các xã đặc biệt khó khăn, chưa đáp ứng được yêu cầu. Họ thiếu kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng phân tích, dẫn đến việc tham mưu, xây dựng kế hoạch chưa sát với thực tế. Việc triển khai chính sách giảm nghèo đôi khi còn mang tính hình thức, chưa thực sự trao quyền và phát huy nội lực của người dân. Sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành chưa thực sự đồng bộ, gây ra tình trạng chồng chéo, lãng phí nguồn lực. Công tác tuyên truyền chính sách chưa đến được với tất cả người dân một cách sâu sắc, khiến một bộ phận vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Đây là những điểm nghẽn cần được tháo gỡ để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

III. Giải pháp hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững nhất

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam, việc hoàn thiện hệ thống chính sách là giải pháp tiên quyết. Các chính sách cần được xây dựng dựa trên cách tiếp cận đa chiều, có sự tham gia của chính người dân và phù hợp với đặc thù văn hóa, điều kiện tự nhiên của từng vùng, từng dân tộc. Thay vì các chính sách hỗ trợ dàn trải, cần tập trung vào các biện pháp tạo động lực, khuyến khích các hộ nghèo chủ động vươn lên. Cụ thể, cần chuyển mạnh từ hỗ trợ trực tiếp sang hỗ trợ có điều kiện, gắn với cam kết thoát nghèo của hộ gia đình. Các chính sách phải tích hợp mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường sinh thái. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền cần được đổi mới, sử dụng các hình thức trực quan, dễ hiểu, bằng tiếng dân tộc để người dân nắm rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Việc công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện chính sách là yếu tố then chốt để tạo dựng niềm tin và sự đồng thuận trong cộng đồng. Hoàn thiện chính sách không chỉ là ban hành văn bản mới mà còn là quá trình rà soát, điều chỉnh và loại bỏ những quy định không còn phù hợp, đảm bảo hệ thống chính sách thực sự là công cụ hữu hiệu cho mục tiêu giảm nghèo bền vững.

3.1. Xây dựng chính sách phù hợp với đặc thù từng dân tộc

Quảng Nam là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số khác nhau, mỗi dân tộc có phong tục, tập quán và phương thức sản xuất riêng. Do đó, một chính sách chung cho tất cả sẽ không thể phát huy hiệu quả tối đa. Việc xây dựng chính sách cần dựa trên nghiên cứu sâu về đặc điểm của từng cộng đồng, chẳng hạn như người Cơ Tu ở Tây Giang, Đông Giang hay người Xơ Đăng ở Nam Trà My. Cần ưu tiên các mô hình kinh tế phù hợp với thế mạnh địa phương như phát triển lâm nghiệp bền vững, trồng cây dược liệu dưới tán rừng, hay du lịch cộng đồng. Chính sách phải tôn trọng và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, biến văn hóa thành nguồn lực cho sự phát triển. Điều này đòi hỏi sự tham gia của các già làng, trưởng bản và chính người dân trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách.

3.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức

Tuyên truyền là khâu yếu trong công tác giảm nghèo hiện nay. Để chính sách đi vào cuộc sống, cần đổi mới phương pháp tuyên truyền. Cần biên soạn tài liệu ngắn gọn, dễ hiểu, sử dụng hình ảnh và ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số. Tổ chức các buổi họp thôn, bản, các lớp tập huấn kỹ thuật sản xuất một cách thực chất, “cầm tay chỉ việc”. Phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng, hệ thống loa truyền thanh cơ sở. Nội dung tuyên truyền không chỉ phổ biến chính sách mà còn phải khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên thoát nghèo, xóa bỏ tư tưởng ỷ lại. Khen thưởng, biểu dương kịp thời các tấm gương hộ gia đình, cá nhân điển hình trong công tác giảm nghèo bền vững để tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng.

IV. Phương pháp tối ưu nguồn lực cho giảm nghèo hiệu quả nhất

Tối ưu hóa nguồn lực là yếu tố sống còn để thực hiện thành công mục tiêu giảm nghèo bền vững tại Quảng Nam. Nguồn lực cho công tác này đến từ nhiều kênh: ngân sách nhà nước, các chương trình mục tiêu quốc gia (như Chương trình 135, Nghị quyết 30a), vốn vay ưu đãi, viện trợ quốc tế và sự đóng góp của xã hội. Vấn đề cốt lõi là phải lồng ghép và điều phối các nguồn lực này một cách khoa học, tránh phân tán, chồng chéo. Cần xây dựng một cơ chế quản lý thống nhất, trong đó xác định rõ vai trò chủ trì của một cơ quan và sự phối hợp của các đơn vị liên quan. Ưu tiên phân bổ nguồn lực cho các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu như giao thông, điện, thủy lợi, trường học, trạm xá tại các xã đặc biệt khó khăn. Đồng thời, dành một tỷ trọng hợp lý cho các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng các mô hình giảm nghèo hiệu quả. Quan trọng hơn cả là phải trao quyền cho cộng đồng địa phương trong việc quyết định và giám sát việc sử dụng nguồn lực. Điều này không chỉ đảm bảo nguồn vốn được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả mà còn nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân trong công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo.

4.1. Lồng ghép nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia

Tỉnh Quảng Nam được thụ hưởng nhiều chương trình mục tiêu quốc gia và các chính sách đặc thù. Để tối ưu hóa hiệu quả, cần xây dựng kế hoạch lồng ghép các nguồn vốn này trên cùng một địa bàn. Ví dụ, vốn từ Chương trình 135 có thể tập trung vào hạ tầng cơ sở, trong khi vốn từ các dự án khác tập trung vào phát triển sản xuất, đào tạo nghề. Việc lồng ghép giúp tránh đầu tư trùng lặp, tạo ra tác động cộng hưởng, giúp các xã nghèo, huyện nghèo có sự thay đổi toàn diện và bền vững. Cần có sự chỉ đạo thống nhất từ Ban Chỉ đạo giảm nghèo cấp tỉnh để điều phối hoạt động này một cách nhịp nhàng giữa các sở, ngành và địa phương.

4.2. Hỗ trợ phát triển sản xuất và đa dạng hóa sinh kế

Hỗ trợ phát triển sản xuất là giải pháp căn cơ để tạo ra thu nhập ổn định cho hộ nghèo DTTS. Thay vì cấp phát giống cây, con vật nuôi một cách đơn thuần, cần tổ chức các mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị. Hỗ trợ người dân từ khâu chọn giống, kỹ thuật canh tác, đến chế biến và kết nối thị trường tiêu thụ sản phẩm. Khuyến khích phát triển các sản phẩm đặc trưng của địa phương có giá trị kinh tế cao. Bên cạnh nông nghiệp, cần hỗ trợ đa dạng hóa sinh kế thông qua các hoạt động phi nông nghiệp như du lịch cộng đồng, nghề thủ công truyền thống, dịch vụ. Việc này giúp người dân giảm phụ thuộc vào nông nghiệp, có thêm nguồn thu nhập và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.

4.3. Nâng cao năng lực cán bộ làm công tác giảm nghèo

Con người là yếu tố quyết định. Cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo từ cấp tỉnh đến thôn, bản. Nội dung đào tạo cần tập trung vào kỹ năng lập kế hoạch có sự tham gia, quản lý dự án, theo dõi và đánh giá, kỹ năng truyền thông. Đặc biệt, cần ưu tiên đào tạo và sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số tại chỗ, vì họ am hiểu sâu sắc về văn hóa, phong tục và có uy tín với cộng đồng. Có chính sách đãi ngộ xứng đáng để thu hút và giữ chân cán bộ giỏi công tác lâu dài tại các vùng khó khăn, góp phần nâng cao chất lượng quản lý nhà nước tại cơ sở.

V. Bài học kinh nghiệm trong quản lý nhà nước về giảm nghèo

Thực tiễn công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam cùng với kinh nghiệm từ các tỉnh bạn như Quảng Ngãi, Sơn La, Nghệ An đã mang lại nhiều bài học quý báu. Bài học đầu tiên là sự cần thiết phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, thống nhất từ cấp ủy, chính quyền các cấp. Khi cả hệ thống chính trị vào cuộc, công tác giảm nghèo mới có thể tạo ra chuyển biến mạnh mẽ. Thứ hai, mọi chính sách, chương trình phải xuất phát từ thực tiễn và nhu cầu của người dân. Việc áp đặt mô hình một cách máy móc, không phù hợp với điều kiện địa phương sẽ dẫn đến thất bại. Thứ ba, công tác tuyên truyền, vận động để thay đổi nhận thức của người dân là yếu tố then chốt. Phải làm cho người nghèo hiểu rằng thoát nghèo trước hết là trách nhiệm của chính bản thân họ. Thứ tư, việc trao quyền và tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong mọi giai đoạn của chương trình, từ lập kế hoạch đến giám sát, là cách tốt nhất để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả. Cuối cùng, công tác kiểm tra, giám sát phải được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh sai sót và xử lý vi phạm. Những bài học này là nền tảng quan trọng để Quảng Nam tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước và đẩy nhanh tiến trình giảm nghèo bền vững trong giai đoạn tới.

5.1. Phân tích số liệu giảm nghèo thực tế giai đoạn 2016 2020

Giai đoạn 2016-2020, công tác giảm nghèo tại vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tỷ lệ hộ nghèo DTTS đã giảm liên tục qua các năm, thể hiện hiệu quả của các chính sách và sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị. Các chương trình đầu tư vào cơ sở hạ tầng đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi, đường giao thông, điện lưới, trường học, trạm y tế được xây dựng và nâng cấp. Hàng nghìn hộ dân được hỗ trợ phát triển sản xuất, tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, tham gia các lớp đào tạo nghề. Những kết quả này đã góp phần cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

5.2. Kinh nghiệm thực tiễn từ các địa phương điển hình

Nghiên cứu kinh nghiệm của các tỉnh có điều kiện tương đồng như Quảng Ngãi, Sơn La, Nghệ An cho thấy một số điểm chung. Các địa phương này đều ban hành các nghị quyết chuyên đề, thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh mạnh để thống nhất chỉ đạo. Họ chú trọng việc phân cấp, giao quyền cho cấp huyện, xã và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Việc huy động, lồng ghép đa dạng các nguồn lực để thực hiện chương trình được thực hiện rất tốt. Đặc biệt, công tác kiểm tra, giám sát được tiến hành thường xuyên và quyết liệt. Đây là những bài học kinh nghiệm quý giá mà Quảng Nam có thể học hỏi, vận dụng một cách sáng tạo để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và toàn diện.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý nhà nước về giảm nghèo vùng dân tộc tiểu số tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VE GIAM NGHEO BEN VUNG 1. TONG QUAN VE GIAM NGHEO VA QUAN LY NHA NUOC VE GIAM NGHEO 1. Khái niệm nghèo Đối nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính chất toàn cầu, nó tổn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển và xã ra ở các nước có nền kinh tế phát triển. Nhưng nó lại phụ thuộc vào thể chế chính trị xã hội, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà tính chất, mức độ nghèo đói ở mỗi nước lại khác khác nhau.

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về đói nghèo, thông thường nghèo. được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Việt Nam đã thừa nhận định nghĩa về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9-1993 tại Bangkok: Aghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cẳu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tu} theo trình độ phát triển KT- XH và phong tục tập quán của địa phương. Nghèo đói được chia thành nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối (theo báo cáo số 21/BLDTBXH-BTXH ngày 25/4/2005).

- Nghèo tuyệt đối: Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh đề sinh tổn trong sự thiếu thốn tồi tệ. Hay nói cách khác, nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận con người không đủ nhu cầu để được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của xã hội, những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập 10 quán của địa phương, của dân tộc. - Nghèo tương đối: Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một ng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.

Nói cách khác, nghèo tương đối là tình trạng một bộ phân dân cư sống dưới mức trung bình của xã hị Chỉ số nghèo: Một chỉ số thường được dùng trong phân tích, đánh giá chính sách là chỉ số nghèo khó (hay còn gọi là tỷ lệ hộ nghèo). Tỷ lệ hộ nghèo. được xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa số dân nằm dưới giới hạn của sự nghèo khó với toàn bộ dân số. Chỉ số này có thể đánh giá mức độ nghèo khổ của một xã, huyện, tỉnh, hay cả nước.

Chỉ số này được tính như sau: dân ở dưới mức tối thiểu Tỷ lệ hộ nghèo £ —————————————— X 100%. Tổng dân số Chuẩn nghèo: Đễ đo lường mức độ nghèo của một quốc gia, người ta dùng mức chuẩn nghèo. Chuẩn nghèo là một tiêu chuẩn để đo mức độ nghèo của các hộ dân, là căn cứ cho các hỗ trợ về chính sách cho hộ đó. Đối với Việt Nam, Chính phủ đã nhiều lần nâng mức chuẩn nghèo trong thời gian từ 1996 đến cuối năm 2020.

Hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập dưới một mức tối thiểu nào đó, tùy theo từng giai đoạn mà mức chuẩn nghèo này sẽ thay đôi. Cụ thể mức chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016-2020: Những hộ ở khu vực nông thôn có mức thu nhập bình quân từ 700.000 đồng/người/tháng trở xuống và những hộ ở khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân từ 900.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo. Khái niệm dân tộc thiểu số Hội đồng Dân tộc của Quốc hội có Công văn số 903/CV-HĐDT ngày ll 04/12/2001 về việc đọc đúng tên và khái niệm về dân tộc, đó là: - Các dân tộc hoặc cộng đồng các dân tộc Việt Nam “bao gồm toàn bộ các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước, vùng lãnh thổ Việt Nam, được mang quốc tịch Việt Nam” [13, Tr 05]. - Đồng bào DTTS hoặc các DTTS chỉ đồng bào các dân tộc hoặc dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc Kinh.

Không nên viết và nói tắt là “đồng bào dân tộc”. Khái niệm quản lý nhà nước về giảm nghèo Quản lý nhà nước “là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để iều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ôn định và phát triển của xã hội” [9, 7z. ~ Khái niệm: Quản lý nhà nước về giảm nghèo “là hoạt động hoạch định và thực thi các chính sách, chủ trương, đề án liên quan đến người nghèo nhằm đạt được mục tiêu quản lý của Nhà nước là giảm tỷ lệ hộ nghèo, nâng cao. mức sống người dân, góp phần thúc đầy kinh tế - xã hội”./5] ~ Chủ thể quản lý là các cơ quan QLNN thống nhất từ Trung ương đến địa phương.

Ở cấp tỉnh, cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động giảm nghèo là UBND tỉnh và các sở, ngành chức năng tham mưu, giúp việc cho chính quyền trong công tác triển khai thực hiện. Khách thể QLNN về giảm nghèo là vắt ề đói nghèo. Mục tiêu của QLNN về giảm nghèo là giúp giảm số lượng người nghèo và tránh tình trạng. tái nghèo sau khi thoát nghèo.

Quan niệm về giảm nghèo Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng. bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Điều này được thể hiện ở tỷ lệ phần trăm và 12 số lượng người nghèo giảm xuống. Hay giảm nghẻo là quá trình chuyền bộ phân dân cư nghèo lên mức sống cao hơn [77].

Giảm nghèo luôn bao hàm xóa đói và cũng giống như khái niệm nghèo, khái niệm giảm nghèo chỉ là tương đối, bởi nghèo có thể tái nghèo, hoặc khi quy định mức nghèo và chuẩn nghèo thay đổi. Dó đó, việc đánh giá mức độ giảm nghèo phải được đánh giá trong một khoản thời gian và không gian nhất định. Quan niệm về giảm nghèo bền vững Giảm nghèo bền vững là kiên quyết không để tái nghèo, phải duy trì các nguồn lực đầu tư và các biện pháp chỉ đạo triển khai thực hiện liên tục có hướng đích, có mục tiêu dé không cho đói nghèo quay trở lại chính nơi chúng ta đang tích cự xóa đói, nơi chúng ta thực hiện quyết tâm giảm nghèo. Giảm nghèo bền vững không đơn thuần là sự trợ giúp một chiều của tăng trưởng kinh tế đối với các đối tượng có nhiều khó khăn mà còn là nhân tố quan trọng.

để tạo ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho phát triển, tạo thêm lực lượng. sản xuất đổi dào tạo nên sự ôn định cho giai đoạn sau phát triển nhanh và mạnh hơn. Giảm nghèo bền vững được hiểu là tình trạng dân cư đạt mức độ thỏa mãn những như cầu cơ bản hay mực thu nhập trên chuẩn nghèo đó ngay cả khi gặp các cú sốc hay rủi ro 24]. Trong đó tập trung các hoạt động hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo có tư liệu và phương tiện đề sản xuắt, đảm bảo anh ninh lương thực ở cấp hộ gia đình, nâng cao thu nhập để vượt qua đói nghèo.

# Dân tộc thiểu số "Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều dân tộc, trong đó có 53 DTTS với gan 13,38 triệu người, chiếm khoảng 14,6% dân số cả nước. 13 Các dân tộc trên đất nước ta là một cộng đồng người đa dạng và thống nhất; cư trú đan xen nhau và và phân tán trên mọi miễn của Tổ quốc; có trình độ phát triển và cơ cấu dân số không đồng đều. Bản sắc văn hóa từng dân tộc góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú của nền văn hoá Việt Nam, kết quả điều tra thực trạng kinh tế xã hội 53 dân tộc thiểu số năm 2015" /15, :. Tiếng nói của các dân tộc cũng khác nhau.

"Các dân tộc thiểu số định cư và sinh sống trên địa bàn rộng lớn, có nhiều vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái. Vùng DTTS và miền núi nước ta chiếm gần 3/4 diện tích tự nhiên, gồm 21 tinh vùng cao, 23 tỉnh có miền núi và 10 tỉnh đồng bằng có đồng bào các DTTS sinh sống. Trong các DTTS, quy mô dân số cũng có sự chênh lệch đáng kể, có những DTTS có số dân trên một triệu người (Tày, Thái, Mường, Kh’mer, Hoa), nhưng cũng có những DTTS có số dân rất ít dưới 1.000 người (Si La, Pu Péo, Ro Mam, Brau, 6 Du)" (15, zr. Chức năng của QLNN về giảm nghèo a.

Chức năng định hướng ~ Xây dựng các chính sách, khuôn khổ pháp lý thông qua việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức, triển khai thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số; thông qua các công cụ: Hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội đề điều hành hoạt động về công tác giảm nghèo [20]. ~ Hoạch định những chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật nhằm. đưa những chính sách đó đến với đời sống người dân. Chức năng phối hợp - Trong công tác QLNN sự phối hợp hoạt động giữa các ngành trong công tác giảm nghèo từ cấp trung ương đến địa phương.

- Các quốc gia có mối quan hệ song phương hoặc có mối quan hệ hợp 14 tác quốc tế đa phương trong quản lý các hoạt động giảm nghèo cùng đi đến đạt tới các mục tiêu và đảm bảo thực hiện những cam kết đã ký kết. Chức năng điều tiết - Công tác QLNN về giảm nghèo ở nước ta hiện nay, tổ chức các hoạt động có lúc thiếu tính đồng bộ, nên vai trò điều tiết của Nhà nước cần phải tăng cường. - Nhà nước dựa trên những quy luật vận động của xã hội, cần định hướng cho công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo theo hướng tích cực. Nhà nước có chính sách khuyến khích và tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho các cá nhân và tổ chức tham gia vào hoạt động giảm nghèo.

Chức năng hỗ trợ - Thông qua việc sử dụng những nguồn lực, nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đây phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. để góp phần thực hiện nhiệm vụ giảm nghèo. ~ Nhà nước hỗ trợ và tạo kiện cho các địa phương xây dựng cơ chế, hoàn thiện thể chế, chính sách để thu hút các nguồn lực đầu tư bên ngoài dé hỗ trợ công tác giảm nghèo bền vững cho địa phương mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ