Tổng quan nghiên cứu

Quảng Nam là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung với diện tích tự nhiên đạt 1.047.400 ha và dân số xấp xỉ 1,5 triệu người. Toàn tỉnh có 37 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số đạt khoảng 139.060 người, chiếm 9,3% tổng dân số. Đồng bào thiểu số phân bố chủ yếu tại 6 huyện miền núi cao gồm Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang, Nam Trà My, Bắc Trà My và Phước Sơn. Trong giai đoạn 2016 - 2020, mặc dù tỉnh đã huy động nhiều nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bằng và miền núi vẫn còn rất lớn. Theo Quyết định số 344/QĐ-UBND ngày 10/02/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam, tỷ lệ hộ nghèo chung toàn tỉnh giảm nhanh, nhưng tỷ lệ hộ nghèo tại vùng dân tộc thiểu số năm 2019 vẫn ở mức cao với 41,12%, tương ứng 14.276 hộ nghèo.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ những bất cập trong công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số, từ khâu ban hành chính sách, tổ chức bộ máy, phân bổ nguồn lực đến thanh tra, kiểm tra. Mục tiêu cụ thể nhằm đánh giá thực trạng công tác quản lý giai đoạn 2016 - 2020, xác định các nguyên nhân cốt lõi gây nghèo dai dẳng và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện cho giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030. Nghiên cứu tập trung tại địa bàn 6 huyện vùng cao với 66 xã khu vực III đặc biệt khó khăn. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách hạ tỷ lệ tái nghèo xuống dưới 2% và nâng mức thu nhập bình quân đầu người vùng dân tộc thiểu số tăng gấp 1,5 lần vào năm 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước trong lĩnh vực công và lý luận về nghèo đói đa chiều. Quản lý nhà nước về giảm nghèo được tiếp cận như một hệ thống quản lý xã hội đặc biệt mang tính quyền lực công, sử dụng pháp luật, quy hoạch và ngân sách để thực hiện 5 chức năng cơ bản: định hướng, điều tiết, phối hợp, hỗ trợ và kiểm tra, giám sát. Mục tiêu cốt lõi của quản lý nhà nước là tác động trực tiếp vào đối tượng nghèo và môi trường sinh kế nhằm giảm tỷ lệ nghèo bền vững, hạn chế tối đa nguy cơ tái nghèo khi xảy ra biến cố thiên tai hay dịch bệnh.

Về phương diện chuẩn nghèo, đề tài áp dụng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, quy định mức thu nhập bình quân từ 700.000 đồng/người/tháng trở xuống đối với khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị. Khung lý thuyết của luận văn tập trung vào 4 khái niệm trung tâm: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, giảm nghèo bền vững và năng lực sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số. Mô hình nghiên cứu phân tích sự tác động tổng hợp của 4 nhóm nhân tố gồm: điều kiện tự nhiên - vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội, hệ thống chính sách giảm nghèo và năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ phương pháp định tính và phương pháp định lượng với quy trình thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp nghiêm ngặt. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bảng hỏi và phỏng vấn sâu với quy mô cỡ mẫu N = 200 hộ nghèo dân tộc thiểu số (bao gồm 80 hộ Cơ Tu, 40 hộ Xê Đăng, 40 hộ Bh'noong, 20 hộ Cor và 20 hộ Ca Dong) phân bổ tại 5 xã đại diện của 6 huyện miền núi cao. Đồng thời, nghiên cứu tiến hành khảo sát N = 50 cán bộ chuyên trách và kiêm nhiệm làm công tác giảm nghèo tại 10 xã vùng cao. Khảo sát thực địa được triển khai trong 15 ngày, từ ngày 10/6/2020 đến ngày 25/6/2020. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được lựa chọn nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các nhóm dân tộc có tập quán canh tác và điều kiện địa hình khác nhau.

Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2016 - 2020 của Văn phòng Giảm nghèo tỉnh Quảng Nam, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Dân tộc và các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh. Tác giả áp dụng phương pháp phân tích hệ thống nhằm bóc tách toàn diện các mối quan hệ tác động qua lại trong bộ máy hành chính, kết hợp phương pháp so sánh đối chiếu với kinh nghiệm quản lý giảm nghèo thực tế từ tỉnh Quảng Ngãi, Sơn La và Nghệ An. Việc lựa chọn các phương pháp này giúp kiểm định độ tin cậy của thông tin, phát hiện các khoảng trống chính sách và đưa ra các giải pháp có tính khả thi cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam đạt bước tiến đáng kể nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo cao. Giai đoạn 2015 - 2019, tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số toàn tỉnh đã giảm mạnh từ 67,22% (năm 2015 với 21.260 hộ nghèo) xuống còn 41,12% (năm 2019 với 14.276 hộ nghèo), tương ứng mức giảm 26,1% sau 4 năm. Mặc dù số hộ thoát nghèo bình quân đạt trên 6,5%/năm, tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào thiểu số vẫn cao gấp gần 10 lần so với tỷ lệ hộ nghèo bình quân toàn tỉnh (4,12%).

Thứ hai, cơ cấu kinh tế và sinh kế của hộ nghèo còn mang tính đơn điệu, phụ thuộc nặng nề vào tài nguyên tự nhiên. Dữ liệu điều tra 200 hộ nghèo cho thấy có tới 95,0% số hộ (190 hộ) mưu sinh bằng nghề làm nương rẫy truyền thống với năng suất thấp. Tỷ lệ hộ nghèo không có nghề nghiệp ổn định hoặc thiếu sức lao động chiếm 4,0% (8 hộ), trong khi chỉ có 1,0% (2 hộ) là cán bộ không chuyên trách cấp xã. Khu vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ hoàn toàn chiếm 0% trong cơ cấu nghề nghiệp của nhóm hộ được khảo sát.

Thứ ba, nghiên cứu đã lượng hóa chính xác 5 nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng nghèo đói tại địa phương. Cụ thể: 26,0% số hộ nghèo do thiếu kiến thức làm ăn và kỹ thuật sản xuất (52 hộ); 22,5% do thiếu đất sản xuất nông nghiệp (45 hộ); 19,0% do không có việc làm ổn định (38 hộ); 17,0% do thiếu nhân lực lao động chính (34 hộ); và 15,0% do thiếu vốn đầu tư ban đầu (30 hộ).

Thứ tư, công tác quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế trong khâu điều phối và tổ chức bộ máy. Năng lực của đội ngũ cán bộ giảm nghèo cấp xã còn hạn chế, chủ yếu làm việc kiêm nhiệm. Chính sách hỗ trợ trực tiếp thời gian qua vô tình tạo ra tâm lý ỷ lại, trông chờ vào trợ cấp của Nhà nước thay vì nỗ lực tự vươn lên thoát nghèo bền vững.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nghèo đói tại 6 huyện miền núi Quảng Nam xuất phát từ sự tương tác phức tạp giữa điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và hạn chế về năng lực quản trị. Địa hình đồi núi dốc đứng, chia cắt mạnh cùng lượng mưa lớn tập trung vào tháng 10 và tháng 11 hàng năm thường xuyên gây ra sạt lở đất, phá hủy kết cấu hạ tầng giao thông. Năng suất lúa rẫy chỉ đạt bình quân 17 tạ/ha, thấp hơn rất nhiều so với mức 38,8 tạ/ha của lúa nước, khiến việc đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ luôn gặp thử thách.

Trong các báo cáo phân tích, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột kép so sánh mức sụt giảm tỷ lệ hộ nghèo 26,1% giai đoạn 2015 - 2019 song song với biểu đồ mạng nhện thể hiện 5 nhóm nguyên nhân nghèo đói. Đồng thời, một bảng số liệu chéo kết hợp giữa nhóm dân tộc (Cơ Tu, Xê Đăng, Bh'noong, Cor, Ca Dong) và mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản sẽ làm nổi bật rõ rệt sự chênh lệch phúc lợi giữa các địa bàn.

So sánh với các địa phương khác, tỉnh Quảng Ngãi đã thành công khi giải ngân 2.257 tỷ đồng để xây dựng gần 1.000 công trình hạ tầng và 930 mô hình sinh kế, giúp tỷ lệ nghèo dân tộc thiểu số giảm 5,55%/năm. Tỉnh Sơn La đã tổ chức 545 lớp đào tạo nghề cho hơn 16.500 lao động nông thôn, giúp 2 huyện thoát nghèo thành công. Tỉnh Nghệ An thực hiện 523 đợt thanh tra, kiểm tra để siết chặt kỷ cương chính sách. Những bài học thực tiễn này chỉ ra rằng Quảng Nam cần khẩn trương chuyển trọng tâm quản trị từ hỗ trợ cấp phát thụ động sang hỗ trợ có điều kiện và tăng cường đào tạo nghề gắn với thế mạnh lâm nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế chính sách theo hướng chuyển đổi mạnh mẽ từ hỗ trợ cho không sang hỗ trợ có điều kiện gắn với trách nhiệm của hộ dân. Ủy ban nhân dân tỉnh cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cần xây dựng quy chế bắt buộc các hộ nhận hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi phải ký cam kết lộ trình thoát nghèo cụ thể. Mục tiêu đặt ra là 100% các dự án sinh kế triển khai trong giai đoạn 2021 - 2025 phải gắn với tiêu chí thu nhập đầu ra, phấn đấu hạ tỷ lệ nghèo vùng dân tộc thiểu số bình quân mỗi năm giảm từ 4,0% đến 5,0%.

Thứ hai, tổ chức quy hoạch đất sản xuất và phát triển chuỗi giá trị cây dược liệu, kinh tế rừng. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân 6 huyện miền núi rà soát lại quỹ đất lâm nghiệp, giao đất khoán rừng cho 100% hộ đồng bào thiếu đất sản xuất. Định hướng giai đoạn 2021 - 2025 tập trung mở rộng diện tích chuyên canh các loại dược liệu bản địa có giá trị kinh tế vượt trội như Sâm Ngọc Linh, Đẳng Sâm, Ba Kích trên diện tích hơn 14.840 ha rừng trồng, đưa giá trị kinh tế trên mỗi hecta canh tác tăng gấp 2 đến 3 lần.

Thứ ba, đổi mới công tác đào tạo nghề và nâng cao chất lượng dịch vụ việc làm nông thôn. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp cùng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp mở các lớp tập huấn kỹ thuật ngay tại thôn bản, tập trung vào kỹ năng trồng trọt công nghệ cao và sơ chế dược liệu. Mục tiêu giai đoạn 2021 - 2025 đào tạo nghề cho tối thiểu 8.000 lao động dân tộc thiểu số, từng bước giảm tỷ lệ lao động thuần nương rẫy từ 95,0% xuống dưới 70,0%.

Thứ tư, kiện toàn tổ chức bộ máy và siết chặt công tác thanh tra, kiểm tra công vụ. Ủy ban nhân dân tỉnh cần bố trí biên chế cán bộ chuyên trách giảm nghèo tại 66 xã khu vực III, định kỳ hàng năm tổ chức bồi dưỡng năng lực quản lý cho 100% cán bộ cơ sở. Đồng thời, Thanh tra tỉnh và Ban Dân tộc duy trì tối thiểu 15 đợt thanh tra, kiểm tra liên ngành mỗi năm nhằm phòng chống thất thoát, bảo đảm nguồn lực đầu tư đến đúng đối tượng thụ hưởng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương bao gồm Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Dân tộc tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện miền núi. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng kế hoạch giảm nghèo giai đoạn trung hạn 2021 - 2025 và tham mưu các nghị quyết chuyên đề cho Hội đồng nhân dân tỉnh.

Thứ hai, giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công, Chính sách công và Kinh tế phát triển. Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu thực địa, kỹ thuật phân tầng mẫu khảo sát N = 200 hộ và khung phân tích chính sách công vùng đồng bào thiểu số.

Thứ ba, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức phát triển quốc tế và cơ quan tài trợ dự án an sinh xã hội. Luận văn cung cấp bức tranh chi tiết về 5 nhóm nguyên nhân nghèo đói và thực trạng sinh kế tại 6 huyện vùng cao, giúp các tổ chức thiết kế các dự án viện trợ kỹ thuật và can thiệp cộng đồng đúng trọng tâm.

Thứ tư, các doanh nghiệp, hợp tác xã và nhà đầu tư trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp, chế biến dược liệu. Nguồn số liệu về lực lượng lao động 139.060 người và quy hoạch vùng trồng 14.840 ha rừng là cơ sở thiết thực để xây dựng chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ hộ nghèo vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam giảm như thế nào trong giai đoạn 2015 - 2019?

Giai đoạn 2015 - 2019 ghi nhận nỗ lực lớn của địa phương khi tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm liên tục từ 67,22% (21.260 hộ) năm 2015 xuống còn 41,12% (14.276 hộ) năm 2019. Tỷ lệ này tương đương mức sụt giảm 26,1% sau 4 năm, nhờ việc thực hiện đồng bộ Chương trình 30a và Chương trình 135.

Nguyên nhân chủ yếu nào dẫn đến tình trạng nghèo đói tại 6 huyện miền núi tỉnh Quảng Nam?

Khảo sát thực địa trên 200 hộ nghèo cho thấy có 5 nguyên nhân chính: thiếu kiến thức làm ăn chiếm tỷ lệ cao nhất với 26,0%, thiếu đất sản xuất chiếm 22,5%, không có việc làm chiếm 19,0%, thiếu hụt lao động chiếm 17,0% và thiếu vốn đầu tư chiếm 15,0%. Hơn nữa, 95,0% số hộ phụ thuộc hoàn toàn vào nương rẫy năng suất thấp.

Cỡ mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp của luận văn được thực hiện ra sao?

Tác giả đã triển khai phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng để khảo sát 200 hộ nghèo dân tộc thiểu số (gồm các dân tộc Cơ Tu, Xê Đăng, Bh'noong, Cor, Ca Dong) tại 5 xã thuộc 6 huyện miền núi, kết hợp khảo sát 50 cán bộ quản lý cấp xã. Quá trình thu thập diễn ra trong 15 ngày, từ ngày 10/6/2020 đến 25/6/2020.

Cơ sở lý luận về chuẩn nghèo áp dụng trong công trình nghiên cứu này là gì?

Luận văn áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, xác định mức thu nhập bình quân từ 700.000 đồng/người/tháng trở xuống ở nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở thành thị, kết hợp đo lường mức độ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản.

Luận văn đã rút ra những bài học kinh nghiệm quản lý nào từ các tỉnh bạn?

Nghiên cứu đúc kết 3 kinh nghiệm lớn: mô hình huy động 2.257 tỷ đồng đầu tư hạ tầng của Quảng Ngãi, chính sách mở 545 lớp đào tạo nghề cho hơn 16.500 lao động của Sơn La và giải pháp duy trì 523 đợt thanh tra, kiểm tra công vụ của Nghệ An nhằm loại bỏ triệt để tình trạng thất thoát nguồn lực.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết về quản lý nhà nước và chuẩn nghèo đa chiều áp dụng riêng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Phản ánh trung thực thực trạng nghèo đói tại 6 huyện miền núi Quảng Nam với tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 26,1% sau 4 năm nhưng vẫn còn ở mức cao 41,12% vào năm 2019.
  • Xác định chính xác 5 nhóm nguyên nhân nghèo cốt lõi, trong đó hạn chế về kiến thức sản xuất (26,0%) và thiếu đất canh tác (22,5%) là hai nút thắt lớn nhất.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gồm: chuyển đổi sang hỗ trợ có điều kiện, quy hoạch vùng dược liệu 3.000 ha, đào tạo 8.000 lao động mỗi năm và siết chặt kiểm tra công vụ.
  • Cung cấp nguồn cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác từ mẫu khảo sát 200 hộ dân và 50 cán bộ, phục vụ trực tiếp cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội miền núi tỉnh Quảng Nam.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã chỉ rõ sự cần thiết phải thay đổi tư duy quản lý công từ trợ cấp bình quân sang quản trị theo kết quả đầu ra và trao quyền chủ động cho người dân. Lộ trình thực hiện các khuyến nghị được định hình rõ ràng cho giai đoạn 2021 - 2025, hướng tới mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn tình trạng nghèo cùng cực vào năm 2030. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp tục khai thác các phát hiện của công trình này để triển khai những mô hình sinh kế giảm nghèo bền vững trong thực tiễn.