Luận văn Thạc sĩ: Quản lý nhà nước về giảm nghèo tại huyện Tu Mơ Rông, Kon Tum

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích quản lý kinh tế quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện tu mơ rông tỉnh kon tum, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

145
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh quản lý nhà nước về giảm nghèo tại huyện Tu Mơ Rông

Luận văn thạc sĩ về quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum cung cấp một cái nhìn hệ thống và sâu sắc về một trong những thách thức lớn nhất của địa phương. Huyện Tu Mơ Rông, với đặc điểm là một huyện miền núi có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, đối mặt với thực trạng nghèo đói tại Kon Tum ở mức báo động. Nghiên cứu này không chỉ hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý công trong lĩnh vực giảm nghèo mà còn đi sâu phân tích thực tiễn giai đoạn 2016-2018. Mục tiêu chính là đánh giá hiệu quả của các chính sách công và hoạt động của chính quyền địa phương, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý, hướng tới phát triển bền vững. Công tác xóa đói giảm nghèo được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Luận văn nhấn mạnh rằng, để thoát nghèo bền vững, cần có một cơ chế quản lý nhà nước hiệu quả, từ khâu xây dựng kế hoạch, triển khai chính sách đến giám sát và đánh giá. Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp giữa phân tích số liệu thứ cấp từ các báo cáo của UBND huyện và dữ liệu sơ cấp thu thập qua khảo sát 290 hộ nghèo và 50 cán bộ. Điều này đảm bảo tính khách quan và thực tiễn cho các kết luận và đề xuất được đưa ra, làm cơ sở khoa học vững chắc cho việc cải thiện an sinh xã hộinâng cao thu nhập cho người dân trong khu vực.

1.1. Cơ sở lý luận về quản lý công trong xóa đói giảm nghèo

Cơ sở lý luận của luận văn được xây dựng trên nền tảng các khái niệm cốt lõi về nghèo đói, giảm nghèo và quản lý công. Nghèo đói không chỉ được định nghĩa qua lăng kính thu nhập (nghèo đơn chiều) mà còn tiếp cận theo hướng đa chiều, bao gồm sự thiếu hụt trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin. Khái niệm quản lý nhà nước về giảm nghèo được hiểu là sự tác động có chủ đích của nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, chính sách và nguồn lực nhằm cải thiện đời sống người nghèo. Vai trò của nhà nước thể hiện qua việc xây dựng chương trình, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát và tạo môi trường thuận lợi để người dân tự vươn lên. Luận văn đã hệ thống hóa 5 nội dung chính của quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, bao gồm: tuyên truyền, xây dựng kế hoạch, triển khai chính sách, tổ chức bộ máy và kiểm tra, giám sát.

1.2. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu tổng quát của luận văn là đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo tại huyện Tu Mơ Rông. Để đạt được mục tiêu này, các mục tiêu cụ thể được đặt ra bao gồm: hệ thống hóa lý luận, phân tích thực trạng giai đoạn 2016-2018, và xác định các nguyên nhân của thành công cũng như hạn chế. Phương pháp nghiên cứu được áp dụng đa dạng, bao gồm phương pháp thống kê mô tả để phân tích các báo cáo kinh tế-xã hội, phương pháp so sánh để đối chiếu kết quả qua các năm, và phương pháp điều tra xã hội học thông qua phiếu khảo sát. Đối tượng khảo sát là 290 hộ nghèo, hộ cận nghèo tại 3 xã có tỷ lệ nghèo cao nhất và 50 cán bộ làm công tác giảm nghèo, đảm bảo dữ liệu thu thập phản ánh đúng thực tế tại địa phương. Các số liệu này là cơ sở quan trọng để đánh giá tác động chính sách một cách chính xác.

II. Thực trạng thách thức trong quản lý giảm nghèo Tu Mơ Rông

Giai đoạn 2016-2018, công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện Tu Mơ Rông đã đạt được những kết quả bước đầu. Tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm, từ 72,67% năm 2015 xuống còn 52,27% vào cuối năm 2018. Điều này cho thấy nỗ lực của vai trò của chính quyền địa phương trong việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Tuy nhiên, luận văn cũng chỉ ra rằng những thành tựu này chưa thực sự bền vững. Thách thức lớn nhất là tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức rất cao so với mặt bằng chung của tỉnh và cả nước. Tình trạng tái nghèo vẫn diễn ra, đặc biệt khi có thiên tai hoặc biến động kinh tế. Việc sử dụng các nguồn lực cho công tác giảm nghèo chưa đạt hiệu quả tối ưu, còn dàn trải. Nhận thức của một bộ phận người dân còn hạn chế, còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước. Đây là những rào cản lớn đối với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Việc phân tích sâu các hạn chế và nguyên nhân là tiền đề quan trọng để tìm ra các giải pháp đột phá, giúp công tác giảm nghèo tại Tu Mơ Rông đi vào thực chất và hiệu quả hơn.

2.1. Phân tích các hạn chế cố hữu trong công tác giảm nghèo

Luận văn chỉ ra nhiều hạn chế trong công tác quản lý. Thứ nhất, việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân tuy đã được thực hiện nhưng chưa thực sự thay đổi được tư duy sản xuất và ý chí vươn lên của nhiều hộ nghèo. Thứ hai, việc xây dựng kế hoạch giảm nghèo đôi khi còn mang tính hình thức, chưa bám sát điều kiện thực tế của từng thôn, làng, từng hộ gia đình. Thứ ba, việc lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình, dự án khác nhau còn thiếu đồng bộ, dẫn đến đầu tư dàn trải. Cuối cùng, công tác kiểm tra, giám sát chưa được thực hiện thường xuyên và quyết liệt, dẫn đến việc một số chính sách chưa đến đúng đối tượng hoặc chưa phát huy hết hiệu quả.

2.2. Nguyên nhân chủ quan và khách quan của thực trạng nghèo

Nguyên nhân của những hạn chế trên đến từ cả yếu tố chủ quan và khách quan. Về khách quan, Tu Mơ Rông có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, địa hình chia cắt, xuất phát điểm kinh tế thấp và sản xuất nông nghiệp manh mún. Về chủ quan, năng lực của một bộ phận cán bộ cơ sở còn hạn chế. Việc phối hợp giữa các ban, ngành đôi khi chưa chặt chẽ. Đặc biệt, một số phong tục, tập quán lạc hậu của đồng bào dân tộc thiểu số cũng là rào cản cho việc tiếp thu khoa học kỹ thuật và thay đổi phương thức sản xuất. Chính bản thân người nghèo cũng thiếu kiến thức, kinh nghiệm làm ăn và thiếu vốn để đầu tư phát triển kinh tế nông thôn.

III. Giải pháp hoàn thiện chính sách kế hoạch giảm nghèo bền vững

Để khắc phục những hạn chế, luận văn đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện Tu Mơ Rông. Trọng tâm của nhóm giải pháp này là đổi mới từ khâu hoạch định chính sách công đến xây dựng và triển khai kế hoạch. Thay vì các chính sách hỗ trợ mang tính cho không, cần chuyển dịch sang các chính sách hỗ trợ có điều kiện, gắn liền với trách nhiệm và nỗ lực của người dân. Việc xây dựng kế hoạch giảm nghèo phải xuất phát từ nhu cầu và tiềm năng thực tế của cộng đồng. Cần tăng cường sự tham gia của người dân ngay từ khâu xác định vấn đề, lập kế hoạch và giám sát thực hiện. Điều này không chỉ giúp kế hoạch sát thực tế hơn mà còn nâng cao ý thức, trách nhiệm của chính các hộ nghèo, hộ cận nghèo. Các chương trình, dự án cần được thiết kế theo hướng tích hợp đa mục tiêu, lồng ghép hiệu quả các nguồn lực để tạo ra tác động cộng hưởng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội một cách toàn diện.

3.1. Đổi mới công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức

Công tác tuyên truyền cần được đổi mới cả về nội dung và hình thức. Nội dung phải thiết thực, dễ hiểu, tập trung vào các mô hình sản xuất hiệu quả, các gương điển hình vươn lên thoát nghèo. Hình thức cần đa dạng, không chỉ qua loa đài, họp thôn mà còn thông qua sân khấu hóa, các buổi đối thoại chính sách trực tiếp. Cần xây dựng đội ngũ tuyên truyền viên là người địa phương, am hiểu văn hóa, phong tục để thông điệp dễ dàng được cộng đồng tiếp nhận. Mục tiêu là thay đổi căn bản nhận thức, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào nhà nước.

3.2. Xây dựng kế hoạch giảm nghèo dựa trên cộng đồng

Quá trình xây dựng chương trình, kế hoạch giảm nghèo cần được thực hiện theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Cán bộ xã, thôn phải là người hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật thay vì áp đặt kế hoạch từ trên xuống. Mỗi kế hoạch cần xác định rõ mục tiêu, lộ trình, nguồn lực và trách nhiệm của từng bên liên quan, đặc biệt là trách nhiệm của hộ gia đình. Ưu tiên các dự án hỗ trợ sinh kế phù hợp với lợi thế của địa phương như trồng dược liệu dưới tán rừng, phát triển chăn nuôi gia súc, gắn sản xuất với chuỗi giá trị để đảm bảo đầu ra ổn định, giúp nâng cao thu nhập cho người dân.

IV. Cách tối ưu bộ máy nguồn lực cho công tác giảm nghèo

Hiệu quả của quản lý nhà nước về giảm nghèo phụ thuộc rất lớn vào năng lực của bộ máy tổ chức và cách thức huy động, phân bổ nguồn lực. Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực cho công tác giảm nghèo. Cần có sự phân công, phân cấp rõ ràng, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các cấp, đặc biệt là cấp xã. Đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo cần được thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là kỹ năng làm việc với cộng đồng. Bên cạnh ngân sách nhà nước, cần đa dạng hóa các nguồn lực, đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút sự tham gia của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Việc phân bổ vốn cần tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn và các dự án có khả năng tạo ra sự thay đổi lớn, lan tỏa, góp phần thực hiện thành công Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.

4.1. Hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực cán bộ

Cần kiện toàn Ban chỉ đạo giảm nghèo các cấp, đảm bảo hoạt động thực chất, hiệu quả. Vai trò của chính quyền địa phương được thể hiện qua việc phân công cụ thể từng thành viên phụ trách theo dõi, giúp đỡ các hộ nghèo. Đồng thời, tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng cho cán bộ cấp xã, thôn về phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều, kỹ năng lập kế hoạch có sự tham gia, kỹ năng giám sát và đánh giá. Chế độ đãi ngộ hợp lý cũng là yếu tố quan trọng để động viên, khuyến khích đội ngũ cán bộ tâm huyết, gắn bó với công việc.

4.2. Tăng cường giám sát và xử lý vi phạm trong quản lý

Công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành thường xuyên, định kỳ và đột xuất. Cần phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và đặc biệt là của cộng đồng dân cư. Mọi thông tin về chính sách, nguồn vốn hỗ trợ phải được công khai, minh bạch. Mọi hành vi vi phạm, trục lợi chính sách, tiêu cực trong quá trình thực hiện phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Việc đánh giá tác động chính sách cần được thực hiện định kỳ để kịp thời điều chỉnh những bất cập, đảm bảo nguồn lực của nhà nước và xã hội được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả.

V. Bài học kinh nghiệm từ các địa phương và ứng dụng thực tiễn

Luận văn không chỉ tập trung vào huyện Tu Mơ Rông mà còn nghiên cứu, chắt lọc kinh nghiệm từ các địa phương khác như huyện Phú Ninh (Quảng Nam), Thạch Hà (Hà Tĩnh) và Đăk Tô (Kon Tum). Bài học chung rút ra là sự quyết tâm chính trị của cả hệ thống, sự vào cuộc đồng bộ của các cấp chính quyền và việc phát huy nội lực của người dân là những yếu tố quyết định thành công. Việc áp dụng các mô hình kinh tế nông thôn hiệu quả, lồng ghép các chương trình một cách sáng tạo đã tạo ra động lực lớn cho công tác xóa đói giảm nghèo. Những kinh nghiệm này là tài liệu tham khảo quý báu, giúp Tu Mơ Rông có thể vận dụng linh hoạt vào điều kiện thực tiễn của mình. Kết quả khảo sát sự hài lòng của các hộ nghèo trong luận văn cũng cho thấy, các chính sách hỗ trợ trực tiếp về y tế, giáo dục được đánh giá cao, tuy nhiên, các chính sách hỗ trợ sản xuất cần được cải thiện để tăng tính hiệu quả và bền vững. Việc ứng dụng thực tiễn các bài học này sẽ giúp đẩy nhanh tiến trình giảm nghèo tại địa phương.

5.1. Kinh nghiệm lồng ghép nguồn lực và phát triển sinh kế

Kinh nghiệm từ huyện Phú Ninh cho thấy việc lồng ghép hiệu quả nguồn vốn từ chương trình nông thôn mới và chương trình giảm nghèo đã tạo ra sức mạnh tổng hợp để đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển các mô hình kinh tế vườn - ao - chuồng. Tu Mơ Rông có thể học hỏi cách thức này để tối ưu hóa các nguồn lực cho công tác giảm nghèo, tập trung vào các cây trồng, vật nuôi có thế mạnh như sâm dây, cà phê xứ lạnh, heo địa phương, tạo ra các chuỗi giá trị sản phẩm đặc thù của huyện.

5.2. Đánh giá sự hài lòng của người dân về chính sách công

Kết quả khảo sát thực tế được trình bày trong luận văn là một kênh thông tin phản hồi quan trọng. Số liệu cho thấy người dân hài lòng với các chính sách đảm bảo an sinh xã hội như cấp thẻ bảo hiểm y tế, miễn giảm học phí. Tuy nhiên, mức độ hài lòng với các chính sách hỗ trợ vốn vay, hỗ trợ cây con giống còn chưa cao do thủ tục đôi khi còn phức tạp, chất lượng giống chưa đảm bảo hoặc thiếu hướng dẫn kỹ thuật đi kèm. Đây là cơ sở để chính quyền địa phương điều chỉnh, hoàn thiện các chính sách công trong thời gian tới.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện tu mơ rông tỉnh kon tum

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về giảm nghèo Chương 2. Thực trạng công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum 14 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ GIẢM NGHÈO 1.

KHÁI QUAT VE GIAM NGHEO VA CONG TAC QUAN LY NHA NUOC VE GIAM NGHEO 1. Khái niệm nghèo và giãm nghèo Tháng 6/ 2008, tuyên bố của Liên hợp quốc được lãnh đạo của tất cả các tổ chức trong Liên hiệp quốc (UN) thông qua đã nêu: “Nghéo Id thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được ải học, không được ải khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa sự không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đằng.

Nghèo có nghĩa dé bi bao hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn "[1]- Tir nam 2007, Alkire và Foster đã bắt đầu nghiên cứu về một cách thức đo lường mới về nghèo, đơn giản nhưng vẫn đáp ứng tính đa chiều của nghèo. Cách thức đo lường này đã được UNDP sử dụng để tính toán chỉ số nghèo đa chiều (MPI) lần đầu tiên được giới thiệu trong báo cáo phát triển con người năm 2010 và được đề xuất áp dụng thống nhất trên thể giới sau năm 2015 để theo dõi, đánh giá nghèo. Chỉ số tông hợp này được tính toán dựa trên 3 chiều nghèo Y tế, Giáo dục và Điều kiện sống với 10 chỉ số về phúc lợi. Chuẩn nghèo được xác định bằng 1⁄3 tổng số thiếu hụt.

Mặc dù các khái niệm được đưa ra có một số điểm khác biệt nhưng có thể thấy các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả đều thống nhất ring nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự 15 thiếu hụtkhông được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Như vay, nghèo đa chiều có thê được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống. Ở Việt Nam khái niệm nghèo được định nghĩa như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả mãn những nhu câu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sóng của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Trong hoàn cảnh nghèo thì người nghèo và hộ nghèo cũng chỉ vật lộn với những muưu sinh hàng ngày và kinh tế vật chất, biểu hiện trực tiếp nhất ở bữa ăn.

Họ không thể vươn tới các nhu cầu vẻ văn hóa, tỉnh thần hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm bớt tới mức tối thiểu gần nhất, gần như không có ” [2]. Nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu. ~ Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi hai. ~ Nghèo tương đối: là tinh trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang Xét.

- Nghéo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu Ở Việt Nam, thời gian qua chuẩn nghèo, tỷ lệ nghèo và xác định đối tượng nghèo hoàn toàn dựa vào các tiêu chí thu nhập, trong đó chuẩn nghèo được xác định theo phương pháp “chỉ phí cho các nhu cầu cơ bản”. Nhu cầu cơ bản là chỉ cho nhu cầu tối thiể Š lương thực và chỉ cho phi lương thực thiết yếu (giáo dục, y tế, nhà ở. Giống như quá trình phát triên, nghèo đói 16 là một khái niệm đa chiều. Trong cùng một thời điểm, người nghèo có thẻ phải đối mặt với nhiều bất lợi khác nhau, có thể là những khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, đất đai, nước sạch hoặc điện thắp sáng.

Sử dụng một tiêu chí thu nhập (hay chỉ tiêu) không đủ đề nắm bắt được tình trạng nghèo thực tế của người dân. Đánh giá nghèo cần được tiếp cận rộng hơn từ chiều cạnh phát triển toàn diện con người. Sau 30 năm đổi mới, phát triển và hội nhập, Việt Nam đã chuyền từ một quốc gia thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung bình nên cách tiếp cận đánh giá nghèo đơn chiều theo thu nhập đã bộc lộ những hạn chế. Ở Việt Nam hiện nay, nghèo tập trung chủ yếu phân lớn dân cư ở vùng miễn núi, vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn.

Khái niệm giảm nghèo: “giám nghèo là tổng hợp các biện pháp, chính sách của nhà nước và xã hội hay của chính đối tượng thuộc diện nghèo nhằm tạo ra để họ nâng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng được như cầu tối thiểu và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người: y tế, giáo dục và điều kiện sống trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theo từng địa phương, khu vực và quốc gia "[4]. Nghèo đa chiều và tiêu chí đánh giá nghèo đa chiều Theo Tổ chức Liên hợp quốc (ƯN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để ng trot hoặc không có nghề nghiệp đẻ nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh”[2] Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập.

Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong 17 khái niệm nghèo đa chiều. Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đây các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (UN, 2012: 5) Tuy nhiên, chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (Oxfam và ActionAid, 2010: 11). Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y-tế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập. Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các như cầu cơ bản của con người.

Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống. Khai niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013. Do lường nghèo đa chiều cần được áp dụng đẻ dựng nên một bức tranh đầy đủ và toàn diện hơn về thực trạng nghèo ở nước ta. Hiện nay Bộ LĐ-TB&XH dang đề xuất xây dựng bộ tiêu chí nghèo đa chiều, đồng thời rà soát cơ chế, h sách nhằm thực hiện giảm nghèo theo hướng đa chiều ở Việt Nam.

Nghị quyết số 15-NQ/TW Hội nghị TƯ lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 đã đề ra nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội, chú trọng đến việc làm, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội cho những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc ít người, báo đảm mức tối thiểu về thu nhập và một số dịch vụ xã hội cơ bản như khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, nước sạch, thông tin, truyền thông. 18 Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo hiệu quả, bền vững hơn, Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Nghị quyết số 76/2014/QH13 về việc đây mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo. vững đến năm 2020, trong đó nêu 10: xdy dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo. đảm mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản; Quyết định số 2324/QĐ-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết số 76/2014/QH13 của Quốc hội đã xác định rõ nhiệm vụ xây dựng, nghiên cứu xây dựng đề án tổng thé vé đổi mới phương pháp tiếp cận nghèo đói ở Việt Nam từ đơn chiều sang đa chiều, trình Chính phủ xem xét vào cuối năm nay.[3] Ngày 15/9/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 1614/QĐ- TTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường.

nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.” Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 của Việt Nam được xây dựng theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng dựa trên cơ sở: (1) Các tiêu chí về thu nhập, bao gồm: chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập. (2) Mức độ thiếu hụt trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: tiếp cận về giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin. Những quy định chính sách nói trên tạo cơ sở pháp lý cho việc chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho.

chương trình giảm nghèo của nước ta trong giai đoạn 2016-2020.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ