Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về giảm nghèo. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện Đăk Giei, tỉnh Kon Tum. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ GIẢM NGHÈO 1.
TONG QUAN VE GIAM NGHEO VA QUAN LY NHA NUOC VE GIAM NGHEO 1. Khái niệm nghèo và giảm nghèo a. Khái niệm về nghèo. Đói nghèo là một thực trạng của quá trình phát triển kinh tế, xã hội.
Nó hiện hữu trong cuộc sống như một yếu tố lịch sử, có thể sinh ra, tồn tại, phát triển và cũng có thể mất đi ở chính mỗi con người, mỗi gia đình, quốc gia hay Theo tổ chức UNDP, nghèo được định nghĩa như sau: Thứ nhất, sự nghèo khô của con người (thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ); thứ hai là sự nghèo khổ vẻ tiền tệ (thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chỉ tiêu tối thiểu) và thứ ba là sự nghèo khổ chung (Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phi lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hay nước khác) [tr.27] Tại Hội nghị bàn về giảm đói nghèo trong khu vực Châu A - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức vào tháng 9/1993 tại BangKok (Thái Lan), các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng “nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương”. Đây là khái niệm chung nhất về nghèo, một khái niệm mở, có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ biến về nghèo. Nhu vậy, nghèo có thê được hiểu là một hiện tượng đa chiều, tình trạng. nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụtkhông được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người.
Khái niệm nghèo đói cũng có 2 dạng, đó là đói kinh niên và đói cấp tính. Đói kinh niên là bộ phận dân cư đói nhiều năm liền cho đến thời điểm đang xét và đói cấp tính là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm dang xét b. Khái niệm về giảm nghèo Ở Việt Nam, giảm nghèo được quán triệt trong các chủ trương, đường lối của Đảng trên cơ sở những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội lần thứ XI của Đảng đã đề ra định hướng cơ bản “nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Tạo cơ hội bình đăng tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội. Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hoá giàu nghèo, giảm chênh lệch về mức sống giữa nông thôn với đô thị. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá nghèo bền vững; giảm dần tình trạng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền, các tầng lớp dân cư”. Giảm nghèo là một trong những biện pháp mà nhà nước sử dụng.
Đó là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gồm các quyết định, quy định, các biện pháp được ban hành bởi cơ quan Nhà nước có thẳm quyền, được cụ thể hóa trong các mục tiêu, kế hoạch, chương trình, dự án. Đối tượng của công tác giảm nghèo là người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo hay vùng nghèo với mục đích cuối cùng là tạo điều kiện để những người thuộc diện nghèo tăng thêm thu nhập, nâng cao điều kiện sống, hội nhập và vươn lên thoát khỏi nghèo. Như vậy, giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách của Nha nước và xã hội hay là của chính những đối tượng diện nghèo, nhằm tạo điều 10 kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng được nhu câu tối thiểu và thỏa mãn được các nhu cầu cơ bản khác của con người; y lo dục và điều kiện sống trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theo từng địa phương, từng khu vực và quốc gia. Khái niệm quản lý nhà nước về giảm nghèo Theo Học viện hành chính (201 1), quản lý nhà nước là “hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước tiến hành đối với tat cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, trên tắt cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ôn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của Nhà nước” [I,tr4] Quản lý hành chính nhà nước là “sự tác động có tổ chức và điều chinh bang quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự, an ninh, thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [22, tr.
Theo giáo trình Lý luận Hành chính nhà nước, quản lý nhà nước là “một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách đề điều chỉnh hành vi của cá nhân, tô chức trên tắt cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ôn định và phát triển của xã hội” [9, tr.3] Theo Giáo trình hoạch định và phân tích chính sách công, Học viện hành chính (2012), quản lý nhà nước về giảm nghèo là “hoạt động hoạch định và thực thi các chính sách, chủ trương, đề án liên quan đến người nghèo nhằm 11 đạt được mục tiêu quản lý của Nhà nước là giảm tỷ lệ hộ nghèo, nâng cao mức sống của người dân, từ đó góp phần thúc đây kinh tế - xã hội” [1], tr. Nhu vậy, quản lý nhà nước về giảm nghèo có thể được hiểu là việc tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ trung ương đến địa phương bằng cách xây dựng, hoạch định, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp. luật hay là các quyết định, quy định, các biện pháp, phương hướng, và được cụ thể hóa trong các mục tiêu, kế hoạch, chương trình, dự án, chính sách bằng, cách huy động, điều phối và phân bỗ các nguồn lực và NSNN vào hoạt động. QLNN về giảm nghèo.Nhằm tác động vào các đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo hay vùng nghèo (trong thời gian và không gian cụ thể) với mục đích cuối cùng là tạo những điều kiện để những người nghèo.
tăng thêm thu nhập, nâng cao điều kiện sống, được tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản (theo chuẩn nghèo đa chiều), để hội nhập vào và vươn lên thoát nghèo, hướng đến mục tiêu giảm nghèo bền vững trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế Quốc tế của đất nước. Đặc điểm của quản lý nhà nước về giảm nghèo. Quản lý nhà nước về giảm nghèo có đặc điểm như sau: - Quản lý nhà nước về giảm nghèo đòi hỏi phải thực hiện trong điều kiện xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. - Quản lý nhà nước về giảm nghèo được đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế.
Trong một thế giới toàn cầu hóa, không thể biệt lập để giải quyết các ví đề giảm nghèo. ~ Quản lý nhà nước về giảm nghèo được đặt trước một yêu cầu cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do 12 nhân dân và vì nhân dân. Giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng, là nhiệm vụ nhà nước và nhân dân. ~ Quản lý nhà nước về giảm nghèo nhằm hướng đến mục tiêu phát triển bền vững; phát triển bền vững là điều kiện tiên quyết cho sự nghiệp giảm nghèo.
Vì vậy, đòi hỏi giảm nghèo đòi hỏi phải bền vững, lâu dài. ~ Quản lý nhà nước về giảm nghèo phải có hiệu lực, hiệu quả và được gắn với thực hiện tiến bộ, và gắn với công bằng xã hội trong từng bước phát triển kinh tế xã hội và trong từng chính sách. Vai trò của quản lý nhà nước về giảm nghèo Quản lý nhà nước về giảm nghèo có vai trò quyết định đối với quá tình. phát triển kinh tế - xã hội.
Thông qua việc ban hành, xây dựng các chính sách, cơ chế phù hợp như tạo việc làm, dạy nghề, hỗ trợ tài chính, đây mạnh phát triển khoa học công nghệ, đào tạo cho đội ngũ lao động nghèo trở thành lực lượng lao động có chuyên môn, tay nghề, kỹ năng lao động, sản xuất, bổ sung. vào nguồn lực của mỗi quốc gia, giúp giải quyết việc làm, tăng thu nhập, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho bộ phận dân cư nghèo, bảo đảm cho nền kinh tế ổn định, phát triển trên diện rộng với chất lượng cao hơn. Quản lý nhà nước về giảm nghèo tạo môi trường kinh tế - xã hội và khuôn khổ hành lang pháp lý ổn định, an toàn cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo tiếp cận các dịch vụ cơ bản như việc làm, giáo dục, y tế, chính sách hỗ trợ,. Bằng quyền lực của mình, quản lý giảm nghèo của Nhà nước góp phần hạn chế những tiêu cực nảy sinh do tình trạng nghèo đói gây ra với mỗi cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng nghèo; đồng thời góp phần giữ vững ồn định chính trị, xã hội.
Khi mức sống. được nâng cao, người nghèo có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch vụ thiết yếu và tham gia vào nhiều hoạt động đoàn thể, xã hội; các v: & gido duc, chăm sóc sức khỏe cũng được quan tâm hơn. Khi đời sống của người dân 13 được cải thiện, người dân tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, chính quyền và chế độ xã hội hơn, từ đó góp phần làm ôn định chính trị cho đất nước.