Chương 1. Cơ sở lý luận của Quản lý nhà nước về du lịch. Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ DU LỊCH 1. KHÁI QUÁT VE DU LICH VA QUAN LY NHÀ NƯỚC VÈ DU LỊCH 1. Một số khái niệm a. Khái niệm du lịch Du lịch là một ngành kinh tế hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới, không chỉ ở các nước phát triển mới quan trọng mà những nước kém phát triển, những nước dang phát triển cũng vậy, đối với Việt Nam chúng ta cũng không ngoại lệ, một trong.
những ngành kinh tế có đóng góp cho ngân sách quốc gia, cho các địa phương rất lớn đó là kinh tế du lịch. Tuy nhiên, hiểu như thế nào là du lịch xét từ góc độ của người du lịch và bản thân người làm du lịch thì cho đến nay vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau, chưa có sự thống nhất trong quan niệm giữa. những người nghiên cứu và những người hoạt động trong lĩnh du lich. Theo Robert Langquar (1980), lần đầu tiên được sử dụng bằng Tiếng Anh khoảng năm 1800 và được quốc tế hóa, sau đó được nhiều quốc gia đã sử dụng trực tiếp mà không cần dịch nghĩa, trong đó có Việt Nam thì thuật ngữ du lịch có nguồn gốc từ tiếng Hán — Việt được hiểu như là một cuộc đi chơi tạm thời.
Tại Hội nghị Liên hiệp quốc về du lịch hop tại Rome-ltalia năm 1963, các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ Theo liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International 10 Union of Official Travel Oragnization: IUOTO): “Du lich duge hiéu 1a hanh động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống. Theo Tổ chức Du l thế giới (World Tourism Organization): “Du lịch bao gồm tắt cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền “Theo Luật Du lịch Việt Nam đã được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa 14 thông qua ngày 19/6/2017, đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác _ [19] Các học giả biên soạn Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1966) đã tách 2 nội dung cơ bản của du lịch thành 2 phần riêng biệt: Thứ nhất, du lịch được xem xét ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch. “Thứ hai, du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế.
Từ những khái niệm trên, có thé rút ra những luận điểm cơ bản về du lich như sau: Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên. Chuyến du lịch ở nơi đến mang tính tạm thời, trong một thời gian ngắn; Mục đích của việc đi du lịch là nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí, tham quan, nghỉ dưỡng hoặc kết hợp đi du lịch với giải quyết công việc cơ quan i đơn vị hoặc nghiên cứu thị trường nhưng không phải vì mục đích định cư, tìm kiếm việc làm nhằm tăng thu nhập bản thân nơi đến tham quan, du lịch. Du lịch là việc thiết lập các quan hệ giữa nhà cung ứng các dịch vụ du lịch với khách du lịch, cư dân địa phương và chính quyền địa phương. Hoạt động du lịch Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 đưa ra khái niệm về hoạt động du lich như sau: Hoạt động du lich là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch [19] Theo đó hoạt động du lịch liên quan đến 3 đối tượng: Di chuyển và lưu trú của khách du lịch; các dịch vụ kinh doanh phục vụ khách du lịch; cộng đồng dân cư, cơ quan, các cá nhân có liên quan trong việc quản lý, điều hành hoạt động du lịch Thứ nhất, việc di chuyển và lưu trú của khách du lịch để tham gia các hoạt động như tham quan nghỉ dưỡng, chữa bệnh, tìm hiểu lịch sử, văn hóa.
Thứ hai, các tổ chức kinh doanh dịch vụ lữ hành, vận tải khách du lịch, lưu trú du lịch, và các dịch vụ du lịch khác: Dịch vụ ăn uống, mua sắm, thể thao, vui chơi, giải trí, chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ liên quan khác phục vụ du khách vì mục đích lợi nhuận được xếp vào các tổ chức, các nhân hoạt động kinh doanh du lịch. Thứ ba là các cơ quan nhà nước, các tổ chức khác có liên quan tại địa phương tổ chức điều phối, quản lý, phục vụ hoạt động du lịch của khách du lich và các đơn vị kinh doanh du lịch nhằm đảm bảo hoạt động theo đúng quy định của pháp luật e. Các loại hình du lịch cơ bản 12 Du lịch nội địa: được hiễ là những khách du lịch thực hiện các chuyến đi du lịch trong phạm vi quốc gia của mình. Du lịch quốc tế: là sự di chuyển của khách du lịch từ qui ia này sang quốc gia khác, hách phải đi ra khỏi vùng lãnh thổ biên giới của một quốc gia Căn cứ vào mục đích của chuyến đi: Du lịch tham quan văn hóa: là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai khác các giá trị văn hóa, góp phan bảo tổn và phát huy giá trị văn.
hóa truyền thống của dân tộc. Du lịch công vụ : là loại hình du lịch của những người đi công tác, dự hội thảo, hội nghị, thăm dò đầu tư, thương mại kết hợp với mục đích du lịch. Du lịch thăm thân nhân: là loại hình du lịch kết hợp với việc thăm viếng người thân, bạn bè, nó được phát triển mạnh mẽ trong điều kiện nền kinh tế phát trién. Du lịch nghỉ dưỡng: được coi như một phương tiện, điều kiện để hồi phục sức lao động của con người sau những ngày tháng lao động mệt nhọc, vất vả.
Du lịch chữa bệnh: là loại hình du lịch đã được phát triển từ lâu đời, nó có ý nghĩa, mục đích phục vụ việc chữa bệnh, điều dưỡng cho con người. Du lich tôn giáo: là các tin đồ đạo giáo hình thành nhu cầu tín ngưỡng được bộc lộ rõ nét trong các cuộc hành hương đến nơi có ý nghĩa tâm linh. Du lich sinh thái là loại hình du lịch chủ yếu dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững. 13 Du lịch giải trí : đây là một loại hình du lịch tham quan để du khách có thể nghỉ ngơi thư giãn để phục hồi sức khỏe sau khoảng thời gian làm việc căng thăng, mệt nhọc.
Du lịch mạo hiểm: là loại hình du lịch dành cho những người yêu thích mạo hiểm để chứng tỏ lòng can đảm và ý chí kiên cường của mình. Du lịch thể thao là loại hình du lịch dành cho các vận động viên thi đấu và du khách đi xem các sự kiện thi dau thé thao, Căn cứ vào việc sử dụng các phương tiện vận chuyên khách du lịch, người ta đưa ra các loại hình du lịch như: đường bộ, đường sắt, đường thủy đường hàng không.Kh iệm quản lý Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Do vậy, có thể hiểu đơn giản Quản lý là tác động của chủ thể tác động lên đối tượng theo mục tiêu nhất định. Suy cho cùng ngoài quản lý con người, đối tượng của quản lý còn bao gồm tài chính, vật chất.
Quản lý không chỉ xử lý quan hệ giữa người với người mà còn phải xử lý mối quan hệ tài chính và vật chất, giữa vật chất và con người, giữa con người và tài chính. Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch Quản lý nhà nước về du lịch là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh liên tục bằng quyền lực công cộng chủ yếu thông qua pháp luật, dựa trên nền tảng của thể chế chính trị nhất định đối với các quá trình, các hoạt động du lịch nhằm đạt được hiệu quả và mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước đặt ra, Dưới góc độ hành chính - kinh tế thì quản lý nhà nước về du lịch có thể được hiểu là hoạt động, là quá trình chỉ đạo, điều chỉnh, điều hành các mối quan hệ phát sinh trong hoạt động kinh doanh du lịch bằng việc thông 14 qua hệ thống pháp luật hiện hành, các chủ thể quản lý nhà nước có liên quan tác động đến các đối tượng quản lý trong quá trình kinh doanh hoạt động du. lịch nhằm định hướng cho hoạt động du lịch phát triển, vận động theo mục tiêu kinh tế - xã hôi được nhà nước đặt ra. Đặc iém của công tác quản lý nhà nước về du lịch Thứ nhất Nhà nước là chủ thẻ tô chức và quản lý các hoạt động về du lịch, do xuất phát từ đặc trưng của nền kinh tế thị trường là tính nhạy cam, phức tạp, năng động, do vậy.
hoạt động du lịch luôn đòi hỏi cần phải có một chủ thể có tiềm lực về mọi mặt đẻ đứng ra điều hành và tô chức, chủ thể ấy không ai khác đó chính là Nhà nước = Nhà nước vừa là người tổ chức, cũng. vừa là người quản lý những hoạt động liên quan đến du lịch; để hoàn thành sứ mệnh của mình, Nhà nước phải để ra pháp luật, chính sách, kế hoạch, quy. hoạch, chiến lược.