phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung đề tài được kết cầu thành 03 chương. Cở sở lý luận quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài Chương 2. Thực trạng quản lý về FDI trên địa ban tinh Quang Nam Chương 3. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về FDI trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN QUAN LY NHÀ NƯỚC VÈ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP. NHUNG VAN DE CHUNG VE QUAN LY NHA NUOC VE DAU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài a) Khái niệm Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau đề cập đến khái niệm FDI, song tất cả đều khai thác một hoặc một vài khía cạnh của vắt hằm khái quát hóa bản chất L nội dung, hình thức của hoạt động này, có thể kể đến một vài quan điểm như: Theo Vũ Chí Lộc (2012) FDI là một khoản đầu tư với những quan hệ lâu đài, theo đó, một tổ chức trong một nên kinh tế (NĐT trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó.
[8] Theo Nguyễn Hoàng Dương (201 1) FDI là một loại đầu tư phản ánh mục tiêu của việc thiết lập mối quan tâm lâu dài của một doanh nghiệp thường trú tại một nền kinh tế (đầu tư trực tiếp) trong một doanh nghiệp (DN đầu tư trực tiếp) là cư dân trong một nên kinh tế khác hơn so với đầu tư trực tiếp. Sự quan tâm lâu dài ngụ ý sự tồn tại của một mối quan hệ lâu dài giữa các nhà đầu tư trực tiếp và các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp và một mức độ đáng kể ảnh hưởng đến việc quản lý của doanh nghiệp. Quyền sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp của 10% quyền biểu quyết của một cư dân doanh nghiệp trong một nền kinh tế bởi một cư dân nhà đầu tư trong nền kinh tế khác là bằng chứng của một mối quan hệ như vậy. [4] Theo Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Phương Thảo (2013) thi “FDI la 10 một sự đầu tư thực hiện để có được lợi ích lâu dài trong doanh nghiệp hoạt động bên ngoài của nên kinh tế của nhà đầu tư.
mục đích của chủ đầu tư là để đạt được một tiếng nói hiệu quả trong việc quản lý của doanh nghiệp ” [7] Tại Việt Nam, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 định nghĩa “ZD/ ià việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bắt kỳ tài sản nào để tiễn hành các hoạt động đâu tư theo quy định của Luật này”. Sau đó, Luật đầu tư năm 2005 mà quốc hội khoá XI Việt Nam đã thông qua có các khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài”, “đầu tư ra nước ngoài nhưng không có khái niệm “FDI”. Tuy nhiên, có thể “gộp” các khái niệm trên lại và có thể hiểu FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có. Trên cơ sở các định nghĩa khác nhau về FDI, luận văn rút ra khái niệm.
chung nhất về FDI là hoạt động đầu tư trực tiếp nhằm mục tiêu lợi nhuận của chủ thể đầu tư nước ngoài tại một quốc gia nhất định, bao hàm cả việc đầu tư vốn và trực tiếp quản lý kinh doanh số vốn đó. b) Phân loại FDI có thể phân loại như sau: ~FDI theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn từ nhà đầu tư nước ngoài - Đầu tư trực tiếp theo hình thức thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước hoặc Chính phủ trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. - Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP: nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành hoạt động đầu tư theo hình thức này có thể ký kết các loại hợp đồng như hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), hợp đồng xây dựng - kinh doanh - ll chuyển giao (BOT), hgp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO) hoặc hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT). + BCC là hình thức đầu tư được ký kết giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh, phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân mới.
Hình thức đầu tư này giúp các nhà đầu tư tiến hành hoạt động. đầu tư được nhanh chóng mà không không mất thời gian, tiền bạc để thành lập và quản lý một pháp nhân mới. + BOT, BTO là hình thức đầu tư được ký kết giữa nhà đầu tư với cơ quan nhà nước có thâm quyền để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, trong, BOT nhà đầu tư nước ngoài được kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng đó trong một thời gian nhất định sau đó chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; BTO thì nhà đầu tư chuyển giao công trình xây dựng cho Nhà nước khi xây dựng xong, Chính phủ sẽ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận. + BT là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thâm quyền.
và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu ha tang, sau khi xây dựng xong nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng. - Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư, đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp và các hình thức đầu tư trực tiếp khác theo qui định của pháp luật. Khái niệm Quản lý nhà nước về FDI Theo Phan Huy Đường (2015) Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt 12 ra trong sự vận động của sự vật. Vì thế nói đến quản lý là phải nói đến cơ chế vận hành, tức là cơ chế quản lý như chế độ, chính sách, biện pháp tổ chức, tâm lý xã hội [6] QLNN 1a một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể định hướng điều hành, chỉ phối, v.
để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Như vậy, từ khái niệm về QLNN nói trên, chúng ta có thể hiểu Q/VN về EDI là tác động của các chủ thể mang tính quyên lực nhà nước bằng nhiêu biện pháp tới các doanh nghiệp có vốn FDI và hoạt động thu hút đầu tư nước. ngoài nhằm thực hiện những chức năng của nhà nước trên cơ sở pháp luật Công tác QLNN đã tạo ra một trật tự nhất định và sự ồn định cho các đối tượng mà nó quản lý, trong đó có các doanh nghiệp có vốn FDI, đưa các đối tượng đó vào một quy luật vận động chung dưới sự kiểm soát của pháp luật và các cơ quan có thẩm quyên dé đảm bảo cho các hoạt động này diễn ra theo đúng quy định của pháp luật vẻ đầu t, hoạt động của doanh nghiệp và phù hợp với định hướng chung trong phát triển kinh tế - xã hội của Ưiệt Nam. Vai trò của Quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp ngoài Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2018), Quản lý nhà nước về tiếp ngoài có vai trò rất quan trọng và cụ thể: a) Ôn định chính trị tạo thuận lợi cho sự vận động của nguén vén FDI Sự én định chính trị - xã hội có ý nghĩa quyết định đến việc huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, đặc biệt là FDI.
Tình hình chính trị không ôn định, đặc biệt là thể chế chính trị (đi liền với nó là sự thay đổi luật pháp) thì mục tiêu và phương thức thực hiện mục tiêu cũng thay đổi. Hậu quả là lợi ích của các nhà đầu tư FDI bị giảm (họ phải gánh chịu một phần hay toàn bộ các thiệt hại đó) nên lòng tin của các nhà đầu tư bị giảm sút. Mặc khác, khi tình hình chính trị - xã hội không ổn định, Nhà nước không đủ khả năng kiểm soát 13 hoạt động của các nhà đầu tư FDI, hậu quả là các nhà đầu tư hoạt động theo. mục đích riêng, không theo định hướng chiến lược phát triển KT-XH của nước nhận đầu tư.
Do đó hiệu quả sử dụng vốn FDI rất th FDI là hoạt động đầu tư tư nhân, nhưng hoạt động dau tư dù trong nước. hay nước ngoài u được nhà nước hỗ trợ dưới nhiều hình thức khác nhau. Hoạt động này hơn nữa còn tạo đựoc sự đảm bảo, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi của các tổ chức kinh tế và tổ chức quốc tế. Nhà nước có vai trò quyết định trong việc lựa chọn, thực thi chính sách kinh tế và chương trình đối ngoại theo.
hướng mở rộng các quan hệ song phương và đa phương với các nước và các tổ chức quốc tế cũng như đảm bảo uy tín của các quốc gia trong cộng đồng, quốc tế. Quan hệ đối ngoại của nhà nước như chiếc chìa khoá mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm cơ hội để đầu tư cũng như đề đảm bảo an toàn và hỗ trợ cho hoạt động đầu tư của họ. Sự ôn định của nền kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết của mọi ý định và hành vi đầu tư. Điều này đặc biệt quan trọng đối với việc huy động và sử dụng vốn nước ngoài.
Để thu hút được FDI, nền kinh tế địa phương phải là nơi an toàn cho sự vận động của vốn đầu tư, và là nơi có khả năng sinh lợi cao. Sự an toàn đòi hỏi môi trường vĩ mô ồn định, hơn nữa phải giữ được môi trường kinh tế vĩ mô ổn định thì mới có điều kiện sử dụng tốt FDI. Mức độ 6n định kinh tế vĩ mô được đánh giá thông qua tiêu chí: chống lạm phát và ồn định tiền tệ.