Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về đào tạo nghề. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động. nông thôn tại huyện Kon Ray, tinh Kon Tum. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho.
lao động nông thôn tại huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum. Téng quan tài liệu nghiên cứu: Trong những năm qua, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đã dành được nhiều sự quan tâm của các nhà lãnh đạo, quản lý cũng như các nhà khoa học. Đã có nhiều công trình nghiên cứu bàn về vấn đề này từ nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau. Trong quá trình thực hiện đề tài này, tác giả đã tham khảo các nghiên cứu đi trước có liên quan, từ đó rút ra định hướng và phương pháp nghiên cứu cho phù hợp với đề tài của mình.
Cụ thể: Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề (2011) đã xuất bản cuốn “M6 hinh dạy nghề và giải quyết việc làm cho lao động ở khu vực chuyển đối mục đích sử dụng đắt”. Đây là cuốn sách được biên soạn dựa trên nhiều tài liệu nghiên cứu khác nhau của các tác giả, các cơ quan trong và ngoài nước [10] Phạm Mạnh Hà (2011) nghiên cứu về vai trò của Nhà nước đối với giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Chuyên đề luận án tiến sỹ đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém và những vấn để đặt ra cần giải quyết trong vấn đề tạo việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò quản lý nhà nước đối với giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa và giải pháp đầu tiên tác giả đề xuất là cần coi trọng công tác quản lý nhà nước về lao động va dao tao nghé [5].
Nguyễn Ngọc Ánh (2013) đã nghiên cứu tình hình quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tinh Tây Ninh. Từ đó, đưa ra các giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn. Qua nghiên cứu thực trang, dé tai chi ra được những hạn chế, khuyết điểm, những điểm chưa phù hợp với thực tế địa phương và yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao. động nông thôn trén dia ban tinh Tay Ninh [1] Bùi Thị Ngọc Thoa (2017) đã nêu thực trạng nguồn nhân lực lao động nông thôn huyện Chương Mỹ, thành phó Hà Nội lai đoạn 2013 - 2015, trong.
đó giải pháp đầu tiên tác giả đề cập đến là đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước về phát triển nhân lực nhưng không đi sâu về lao động nông thôn [I 1]. Nguyễn Hữu Tình (2017) đã tập trung vào công tác đào tạo nghề của các trường dạy nghề và yếu tố ảnh hưởng đến công tác dạy nghề tại tỉnh huyện Bồ Trạch, tỉnh Quảng Bình, đồng thời phân tích cụ thể các nhân tố ảnh hưởng tới công tác đào tạo nghề cũng như công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn [9] Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn là nội dung có vai trò, ý nghĩa quan trọng. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên, cho đến thời điềm hiện tại, vẫn chưa có một đề tài khoa học hay công trình nào nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước đối về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.
Trên cơ sở tham khảo một số giáo trình, luận văn và bài báo có liên quan, tác giả đã làm rõ hơn một số nội dung cho đề tài nghiên cứu của mình. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY N NUOC VE DAO TAO NGHE 1. NHUNG VAN DE CHUNG VE QUAN LY NHA NUGC VE DAO TAO NGHE 1. Một số khái niệm liên quan a.
Nghé Trong đời sống sản xuất của xã hội, trong việc đào tạo cán bộ kỹ thuật, đào tạo công nhân chúng ta thường nói đến một khái niệm khác. Theo Nguyễn Hùng (2008): “Những chuyên môn có những đặc điểm chung, gân giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghẻ. Nghẻ là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gân giống nhau. Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tỉnh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thé nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người” [7, tr.
'Ở một khía cạnh khác: Theo Nguyễn Dũng (2012) thì cho rằng: “Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tỉnh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thê chất và tỉnh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động.) hoặc giá trị tỉnh thân (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ.) với tư cách là những phương tiện sinh tôn và phát triển của xã hội " [13] b. Đào tạo nghề Theo mục 1 Điều 5 Luật Dạy nghề năm 2006: “Đào tao nghẻ được hiểu là hoạt động day và học nhằm trang bị kiến thức, kỳ năng và thái độ nghé nghiệp cần thiết cho người hoc nghẻ để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học ”. Theo ILO: “Dao tao nghệ là những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc nhóm nghề.
Nó bao gầm đào tạo ban đâu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan dén nghé nghiệp chuyên sâu” Theo định nghĩa tại Điều 3 Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 thì khái niệm: “Dao tao nghé duoc déi thành đào tạo nghề nghiệp và là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghẻ nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc đề nâng cao trình độ nghẻ nghiệp ”' Nhu vậy, có thẻ rút ra được khái niệm đào tạo nghề là hoạt động trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ hành nghề cho người lao động đề qua đó giúp người lao động có thể tự tạo việc làm hoặc tìm được việc làm. e Quản lý Theo giáo trình Khoa học hành chính (2010) - Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính có thê nhận thấy bao giờ quản lý cũng xuất hiện cùng với nhu cầu phải phân công và phối hợp trong lao động.Mác cho rằng: “7át cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cân đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một khi người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhac thi can phải có nhạc trưởng " [4, tr.53-54] 10 Để một hoạt động quản lý có thẻ diễn ra, bên cạnh chủ thể quản lý còn cần các yếu tố khác như đối tượng quản lý, cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và những mục tiêu mà hoạt động quản lý đó hướng tới Nhu vậy, có thể hiểu quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thê quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định đẻ đạt tới những mục tiêu nhất định. Từ nội hàm của các khái niệm trên, có thể thấy rằng quản lý có một vai trò hết sức quan trọng nhằm tạo ra sự thống nhất ý chí trong tổ chức giữa những người quản lý và người quản lý: giữa những người bị quản lý với nhau; định hướng sự phát triển của tô chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung.
và hướng mọi nỗ lực của các đối tượng quản lý vào mục tiêu đó; tô chức, điều hoà, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân, tổ chức, giảm độ bat định nhằm đạt được mục tiêu quản lý; lạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức bằng cách kích thích, động viêt nắn lệch lạc, sai sót nhằm giảm bớt thất thoát, sai lệch trong quá trình quản lý, tạo môi trường và đi lên cho sự phát triển của mọi cá nhân và tổ chức, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và có hiệu quả. Xã hội loài người ngày càng phát triển thì trình độ quản lý cũng được. phát triển phù hợp. Hoạt động của con người rất đa dạng và phong phú nên quản lý cũng đa dạng phong phú.
Do đó, khi nói về quản lý, các nhà lý luận về quản lý đã có nhiều khái niệm và tư tưởng quản lý khác nhau. Quén If nha nuée Một số nhà nghiên cứu hành chính, luật pháp cho rằng: Theo Điệp (1999) quan niệt : “Q@LXN là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước " [2]. Các tác giả của Đề tài “Nội dung và phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” đã đưa ra khái niệm về QUNN như sau: “QLNN là hoạt động có tổ chức bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước (công quyên) điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của công dân và mọi tổ chức xã hội, chính trị, khoa học, văn hóa - xã hội nhằm giữ gìn thể chế chính trị, trật tự xã hội và phát triển xã hội theo những mục tiêu đã định ”. Nội hàm của quản lý nhà nước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử.
Ngày nay, quản lý nhà nước xét về mặt chức năng bao gồm hoạt động lập pháp, hoạt động hành chính (chấp hành và điều hành) và hoạt động tư pháp ” [6].