Luận văn: Quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo tại tỉnh Gia Lai

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích quản lý kinh tế quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh gia lai, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả

Trường đại học

Đại Học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

121
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo tại Gia Lai

Quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo là một nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam nói chung và tỉnh Gia Lai nói riêng. Đây là hoạt động có chủ đích của nhà nước, sử dụng các công cụ chính sách, pháp luật và nguồn lực để tác động lên các đối tượng nghèo, nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững, đảm bảo an sinh xã hội tỉnh Gia Lai. Luận văn thạc sĩ về "Quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Gia Lai" đã hệ thống hóa một cách toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề này. Nghiên cứu chỉ ra rằng, hiệu quả của công tác giảm nghèo không chỉ phụ thuộc vào việc ban hành chính sách mà còn nằm ở năng lực tổ chức, triển khai, giám sát và huy động nguồn lực. Đối với một tỉnh miền núi có nhiều đặc thù như Gia Lai, với tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, việc tìm ra mô hình quản lý hiệu quả càng trở nên cấp thiết. Bài viết này sẽ phân tích sâu các khía cạnh cốt lõi trong hoạt động quản lý nhà nước, từ những thách thức thực tiễn đến các giải pháp đột phá, dựa trên nền tảng nghiên cứu học thuật uy tín.

1.1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong công tác giảm nghèo

Theo luận văn, cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong giảm nghèo được định nghĩa là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà nước lên các quá trình xã hội nhằm đạt được mục tiêu giảm nghèo. Hoạt động này mang các đặc điểm cơ bản: tính chấp hành và điều hành, tính chủ động sáng tạo, và hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Vai trò của nhà nước được thể hiện qua năm nội dung chính: (1) Hoạch định chiến lược, chương trình và chính sách giảm nghèo; (2) Tổ chức triển khai thực hiện chính sách; (3) Huy động và phân bổ nguồn lực cho công tác giảm nghèo; (4) Xây dựng tổ chức bộ máy thực thi; (5) Kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm. Mỗi nội dung đều có mối liên hệ chặt chẽ, tạo thành một hệ thống quản lý đồng bộ từ trung ương đến địa phương, đảm bảo chính sách đến đúng đối tượng là các hộ nghèo, hộ cận nghèo.

1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Gia Lai ảnh hưởng đến đói nghèo

Gia Lai là tỉnh miền núi phía Bắc Tây Nguyên với những đặc điểm kinh tế tỉnh Gia Lai mang tính đặc thù. Dân số toàn tỉnh đến cuối năm 2018 là 1,437.3 nghìn người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 44,38%. Kinh tế chủ yếu dựa vào phát triển nông nghiệp nông thôn, đời sống người dân còn nhiều khó khăn. Mặc dù tốc độ tăng trưởng GRDP giai đoạn 2016-2018 đạt mức khá (trên 7%/năm), nhưng sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, đặc biệt giữa khu vực thành thị và vùng sâu, vùng xa còn rất lớn. Địa hình chia cắt, hạ tầng giao thông chưa đồng bộ là rào cản lớn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và triển khai các mô hình kinh tế hiệu quả. Chính những yếu tố này đã tác động sâu sắc đến thực trạng nghèo đói tại Gia Lai, đòi hỏi công tác quản lý nhà nước phải có những giải pháp đặc thù, phù hợp với điều kiện tự nhiên và văn hóa xã hội của địa phương.

II. Thách thức trong quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo Gia Lai

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, thực trạng nghèo đói tại Gia Lai vẫn còn nhiều thách thức lớn đối với công tác quản lý nhà nước. Theo số liệu từ luận văn, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh vẫn ở mức cao so với bình quân chung cả nước (13,34% vào cuối năm 2018). Quá trình triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững còn gặp nhiều vướng mắc. Các hạn chế chủ yếu tập trung vào việc tổ chức thực hiện chính sách chưa đồng bộ, công tác tuyên truyền chưa sâu rộng, và năng lực của một bộ phận cán bộ cơ sở còn hạn chế. Hơn nữa, nhận thức của một bộ phận người nghèo vẫn còn tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước, chưa chủ động vươn lên. Những khó khăn này đòi hỏi một sự đánh giá toàn diện để tìm ra nguyên nhân gốc rễ và đề xuất các giải pháp mang tính đột phá, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và đảm bảo mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững.

2.1. Phân tích thực trạng hộ nghèo theo chỉ số nghèo đa chiều

Việc áp dụng chỉ số nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 đã cho thấy một bức tranh toàn diện hơn về đói nghèo tại Gia Lai, không chỉ dựa vào thu nhập. Theo đó, nhiều hộ nghèo, hộ cận nghèo tuy có thu nhập trên chuẩn nhưng lại thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin. Cụ thể, số liệu điều tra cho thấy tỷ lệ thiếu hụt về chất lượng nhà ở và tiếp cận nhà tiêu hợp vệ sinh ở các huyện nghèo còn rất cao. Điều này cho thấy các chính sách giảm nghèo cần được thiết kế lại, không chỉ tập trung vào hỗ trợ tài chính trực tiếp mà cần lồng ghép các chương trình cải thiện điều kiện sống và nâng cao năng lực tiếp cận dịch vụ cho người dân. Việc phân tích sâu các chiều thiếu hụt là cơ sở quan trọng để các cơ quan quản lý như Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Gia Lai hoạch định chính sách đúng và trúng.

2.2. Hạn chế trong triển khai và giám sát chính sách giảm nghèo

Luận văn chỉ ra rằng, một trong những thách thức lớn nhất là khâu tổ chức triển khai và giám sát thực hiện chính sách. Công tác chỉ đạo tại một số cấp chính quyền địa phương chưa kịp thời, đồng bộ; kế hoạch giảm nghèo đôi khi còn mang tính hình thức. Việc tuyên truyền, phổ biến chính sách chưa đa dạng, chưa đến được với tất cả người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa. Hơn nữa, công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế, chưa phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm. Việc thiếu cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành liên quan dẫn đến tình trạng nguồn lực bị phân tán, chồng chéo. Đây là những nút thắt cần được tháo gỡ để đảm bảo các chính sách tín dụng cho hộ nghèo và các chương trình hỗ trợ khác phát huy tối đa hiệu quả.

III. Phương pháp hoàn thiện chính sách và nguồn lực giảm nghèo Gia Lai

Để vượt qua các thách thức, việc hoàn thiện hệ thống chính sách và tối ưu hóa nguồn lực cho công tác giảm nghèo là giải pháp then chốt. Luận văn đã đề xuất một lộ trình rõ ràng, bắt đầu từ việc rà soát và điều chỉnh các chính sách giảm nghèo hiện có cho phù hợp hơn với thực tiễn của tỉnh. Thay vì hỗ trợ dàn trải, cần tập trung nguồn lực vào các chính sách có tác động lan tỏa lớn như hỗ trợ sản xuất, đào tạo nghề cho lao động nông thôn, và phát triển hạ tầng thiết yếu. Bên cạnh nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, việc xã hội hóa công tác giảm nghèo, huy động sự tham gia của doanh nghiệp và cộng đồng đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Một cơ chế phân bổ nguồn lực minh bạch, hiệu quả, dựa trên các tiêu chí rõ ràng và có sự giám sát của người dân sẽ là đòn bẩy để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thực hiện thành công mục tiêu an sinh xã hội tỉnh Gia Lai.

3.1. Tối ưu hóa chính sách tín dụng và hỗ trợ sản xuất cho hộ nghèo

Chính sách tín dụng ưu đãi là một trong những công cụ hiệu quả nhất để giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo có vốn sản xuất, kinh doanh. Giải pháp được đề xuất là cần đơn giản hóa thủ tục vay vốn, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa Ngân hàng Chính sách xã hội với các tổ chức đoàn thể (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ) để thẩm định và giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích. Bên cạnh đó, chính sách tín dụng cho hộ nghèo cần đi đôi với hoạt động chuyển giao khoa học kỹ thuật, hỗ trợ giống, vật tư và liên kết tiêu thụ sản phẩm. Việc nhân rộng các mô hình phát triển nông nghiệp nông thôn hiệu quả, phù hợp với điều kiện từng vùng sẽ giúp người dân không chỉ thoát nghèo mà còn làm giàu chính đáng, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh.

3.2. Đa dạng hóa và phân bổ hiệu quả nguồn lực cho giảm nghèo

Nguồn lực tài chính là yếu tố quyết định sự thành công của các chương trình. Giải pháp trọng tâm là cần đa dạng hóa các nguồn lực cho công tác giảm nghèo. Ngoài ngân sách trung ương và địa phương, cần xây dựng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các vùng khó khăn, gắn trách nhiệm xã hội với hoạt động sản xuất kinh doanh. Vận động sự đóng góp từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cũng là một kênh quan trọng. Về phân bổ, cần áp dụng nguyên tắc ưu tiên cho các huyện, xã có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất, đặc biệt là vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Việc lồng ghép các nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững với các chương trình phát triển kinh tế khác sẽ giúp tránh lãng phí và tạo ra sức mạnh tổng hợp, thúc đẩy giảm nghèo nhanh và bền vững hơn.

IV. Bí quyết nâng cao hiệu quả quản lý công tác giảm nghèo ở Gia Lai

Hiệu quả của quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Gia Lai phụ thuộc rất lớn vào năng lực của bộ máy thực thi và sự tham gia của cộng đồng. Do đó, các giải pháp nâng cao hiệu quả giảm nghèo không chỉ dừng lại ở chính sách mà phải tập trung vào con người và phương thức triển khai. Cần xây dựng một đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo chuyên nghiệp, tâm huyết, am hiểu văn hóa địa phương. Đồng thời, phải đổi mới mạnh mẽ công tác thông tin, tuyên truyền để thay đổi nhận thức, khơi dậy ý chí tự lực vươn lên của người nghèo. Sự tham gia chủ động của chính người dân, từ khâu xác định đối tượng, lập kế hoạch đến giám sát thực hiện, là yếu tố đảm bảo tính bền vững cho mọi nỗ lực giảm nghèo. Đây chính là những kinh nghiệm giảm nghèo quý báu được đúc kết từ thực tiễn.

4.1. Hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực cán bộ cơ sở

Tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả là yêu cầu cấp thiết. Cần phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành, đặc biệt là vai trò của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Gia Lai trong việc điều phối chung. Yếu tố quyết định là chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là ở cấp xã, thôn. Cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về quản lý dự án, phương pháp tiếp cận cộng đồng và các chính sách mới. Chế độ đãi ngộ hợp lý cùng với cơ chế khen thưởng, kỷ luật nghiêm minh sẽ tạo động lực để cán bộ cống hiến, sâu sát với cơ sở, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của các hộ nghèo, hộ cận nghèo và hỗ trợ họ một cách thiết thực nhất.

4.2. Tăng cường tuyên truyền và phát huy vai trò chủ thể của người dân

Công tác tuyên truyền cần được đổi mới cả về nội dung và hình thức. Thay vì các báo cáo khô khan, nên sử dụng các hình thức trực quan, sinh động như sân khấu hóa, các buổi nói chuyện chuyên đề bằng tiếng địa phương, nêu gương các điển hình thoát nghèo. Nội dung tuyên truyền cần tập trung vào việc khơi dậy tinh thần tự lực, ý chí vươn lên, xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại. Quan trọng nhất là phải phát huy vai trò chủ thể của người dân. Cần thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, để người dân được trực tiếp tham gia vào quá trình bình xét hộ nghèo, lựa chọn dự án hỗ trợ và giám sát việc sử dụng nguồn vốn. Khi người dân cảm thấy mình là người trong cuộc, họ sẽ có trách nhiệm hơn với chính sách và nỗ lực hơn để xóa đói giảm nghèo bền vững.

V. Đánh giá tác động chính sách và kết quả giảm nghèo thực tiễn

Việc đánh giá tác động chính sách là một khâu không thể thiếu trong chu trình quản lý. Giai đoạn 2016-2018, công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo tại Gia Lai đã đạt được những kết quả tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm đều qua các năm, từ 22,55% (năm 2016) xuống còn 13,34% (cuối 2018), vượt chỉ tiêu đề ra. Các chương trình hỗ trợ đã giúp cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng nông thôn và điều kiện tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản của người dân. Hàng nghìn hộ gia đình đã được hỗ trợ vốn, nhà ở, đất sản xuất, từng bước ổn định cuộc sống. Những con số này là minh chứng rõ nét cho nỗ lực của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của người dân. Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, tỷ lệ tái nghèo còn tiềm ẩn, đòi hỏi các giải pháp quản lý cần được tiếp tục hoàn thiện trong giai đoạn tiếp theo.

5.1. Phân tích số liệu giảm nghèo và tác động kinh tế xã hội

Theo Bảng 2.3 trong luận văn, số hộ nghèo tuyệt đối của Gia Lai đã giảm từ 85.873 hộ (năm 2016) xuống còn 64.873 hộ (năm 2018). Tỷ lệ giảm nghèo bình quân mỗi năm đạt trên 3,1%, trong đó tỷ lệ hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân 6,37%/năm. Đây là một kết quả rất đáng khích lệ. Tác động của các chính sách giảm nghèo không chỉ dừng lại ở việc cải thiện thu nhập. Nó còn góp phần ổn định chính trị, đảm bảo an ninh trật tự tại các vùng khó khăn. Khi đời sống được nâng cao, người dân sẽ tin tưởng hơn vào chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, tích cực tham gia vào các phong trào phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, góp phần xây dựng nông thôn mới.

5.2. Hiệu quả từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững

Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững đã mang lại luồng sinh khí mới cho các địa bàn khó khăn của tỉnh. Nguồn vốn từ chương trình đã được đầu tư để xây dựng, sửa chữa hàng trăm công trình hạ tầng thiết yếu như đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, công trình thủy lợi. Các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế đã giúp nhiều hộ dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi thành công. Thông qua chương trình, năng lực của cán bộ cơ sở và cộng đồng đã được nâng lên đáng kể. Việc đánh giá tác động chính sách cho thấy chương trình đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, cải thiện toàn diện chất lượng cuộc sống cho hộ nghèo, hộ cận nghèo.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh gia lai

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về công tác giảm nghẻo trên địa bàn tỉnh Gia Lai Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo trên dia ban tinh Gia Lai CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VE CONG TAC GIAM NGHEO 1. TONG QUAN VE GIAM NGHEO VA QUAN LY NHA NUOC VE GIẢM NGHÈO. Khái niệm giảm nghèo và tiêu chí xác định chuẩn nghèo a.

Khái niệm về nghèo Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiếu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trằng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyển, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” [12, tr.23] Tại hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Thái Lan năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao cho rằng: “Nghẻo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhậm” [L7, tr.

Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo như sau: “Người nghèo là tắt cả những ai mà thu nhập thắp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tôn tại” [18, tr.2] 10 Trong “Báo cáo về tình hình phát triển thế giới - Tấn công nghèo đói” năm 1995, WorldBank (WB) thừa nhận quan điểm truyền thống hiện nay về đói nghè ói nghèo “không chỉ bao hàm sự khốn cùng vẻ vật chất (được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tẾ” [13, tr. Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, nghèo đói là “rừnh trạng của một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thoả mãn một phân các nhu cầu co ban của con người và có mức sống ngang bằng hoặc dưới mức sống tối thiếu của cộng đồng xét trên mọi phương điện” [4, tr.3] Nghèo gồm các mức như nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có. nhu cầu tối thiểu. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo.

không có khả năng thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống như ăn, mặc, ở, đi lại,. Nghéo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét. Nghèo có nhu cầu tối thiểu là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu đề duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu. Như vậy, nghèo có thể được hiểu là một hiện tượng đa chiều, tình trạng.

nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụƯkhông được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo đa chiều ở Việt Nam Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, tháng 11/2015, chuẩn nghèo mới tiếp cận với nghèo đa chiều áp dụng giai đoạn 2006-2020 như sau 4.1: Chuẩn nghèo của Việt Nam thời kỳ 2006-2020 Don vi: déng/nguéi/thang Giai đoạn 2006-2010 2010-2015 2016-2020 Khu vực Nông thôn 200.000 Nguồn: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Để đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản, dựa vào 10 chỉ số sau: (1) Tiếp cận các dịch vụ y tế; (2) Bảo hiểm y tế; (3) Trình độ giáo dục của người lớn; (4) Tình trạng đi học của trẻ em; (5) Chất lượng nhà ở; (6)Diện tích nhà ở bình quân đầu người; (7) Nguồn nước sinh hoạt; (8) Hồ xí/ nhà tiêu hợp vệ sinh; (9) Sử dụng dịch vụ viễn thông; (10) Tài sản phục vụ tiếp cận thông tin Căn cứ vào chuẩn thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản Quyết định 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, tiêu chí xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình cụ thẻ như sau: + Hộ nghèo: ~ Khu vực nông thôn: đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: có thu nhập bình quân đầu từ đủ 700.000 đồng trở xuống/tháng; có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. ~ Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/ tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; có thu nhập. bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ tỉ hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

12 + Hộ cận nghèo: ~ Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản ~ Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. + Hộ có mức sống trung bình: - Khu vực nông thôn: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1. - Khu vực thành thị: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1. Quan niệm về giảm nghèo Ở Việt Nam, giảm nghèo được quán triệt trong các chủ trương, đường lối của Đảng trên cơ sở những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đại hội lần thứ XI của Đảng đã đề ra định hướng cơ bản: “Nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân. Tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguôn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội. Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hoá giàu nghèo, giảm chênh lệch về mức sống giữa nông thôn với đô thị. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá nghèo bên vững; giảm dẫn tình trạng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miễn, các tầng lớp dân cư” I6.

Giảm nghèo là một phạm trù lịch sử mang tính tương đối với nghèo luôn hiện hữu trong xã hội do sự khác biệt về năng lực, thể chất, thu nhập, địa 13 vị xã hội,. giữa các cá nhân với nhau. Không thể xóa được đói nghèo mà chỉ có thể giảm nghèo. Giảm nghèo là quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên mức sống cao hơn, thoát khỏi tình trạng nghèo.

Do đó, giảm nghèo có tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Hơn nữa, giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có đầy đủ kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống của con người ở mọi mặt Giảm nghèo cũng có thể hiểu là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tinh trạng nghèo [7, tr. Đây là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn. Điều này được thê hiện tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống.

Tóm lại, có thể giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách của Nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo, nhằm tạo điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập. không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu và thỏa mãn được các nhu cầu cơ bản khác của con người: y tế, giáo dục và điều kiện sống trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theo từng địa phương, từng khu vực và quốc gia. Khái niệm quản lý nhà nước về giảm nghèo Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để liều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tắt cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ôn định và phát triển xã hội Theo giáo trình Lý luận Hành chính nhà nước thì Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xa hội đăc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách đề điều chỉnh hành vi của cá nhân, tô chức trên tất cả các mặt của đời sống xa hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ồn định và phát triển của xã hội [10, tr.3] 14 Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp đến hoạt động tư pháp. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp.

Quản lý nhà nước về im nghèo bền vững là sự tác động của nhà nước bằng cơ chế, chính sách của tổ chức bộ máy nhằm quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện giảm nghèo, từng bước nâng cao chất lượng đời sống xã hội, ôn định và phát t t nước, hạn chế tối đa nguy cơ tái nghèo. Quản lý nhà nước về giảm nghèo là “hoạt động có ý thức do Nhà nước thực hiện thông qua các công cụ (cơ chế, chính sách, pháp luật, hệ thống tổ chức,nguôn lực.) và các biện pháp hành chính khác (thanh tra, kiểm tra, giám sát.) tác động vào người nghèo với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, đảm báo công bằng, an sinh xã hội trong từng giai đoạn nhắt định” [3, tr43]. Đặc điểm của quản lý nhà nước về giảm nghèo Quản lý nhà nước về giảm nghèo có đặc điểm như sau: ~ Quản lý nhà nước về giảm nghèo là hoạt động mang tính chấp hành. và điều hành [12, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ