Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. - Chương 2: Thực trang quản lý nhà nước về công tác đào tạo nghề cho. lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. - Chương 3: Giải pháp tăng cường QLNN về công tác đào tạo nghề cho.
lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. 13 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ CÔNG TÁC DAO TAO NGHE CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. NHỮNG VÁN ĐÈ CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VẺ CÔNG TAC ĐÀO TẠO NGHE CHO LAO DONG NONG THON 1. Lao động, lao động nông thôn và đặc điểm của lao động nông thôn a.
Các khái gm *= Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của minh [22] ~ Nguồn lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả. năng lao động (theo quy định của nhà nước: nam có tuổi từ 16-60; nữ tuôi từ 16-55) [22] ~ Nguồn lao động nông thôn (LĐNT) là một bộ phận dân số sinh sống. và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuôi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động [22]. - Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những người trong độ tuôi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm [9].
Tuy nhiên, do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình. Từ khái niệm nguồn lao động ở nông thôn mà ta thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào, nhưng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm ở nông thôn. Vai trò của lao động nông thôn 14 ~ Nguồn lao động nông thôn tham gia vào quá trình phát triển các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, nguồn lực trong nông nghiệp có số lượng lớn và chiếm tỷ trọng cao trong.
tông số lao động xã hội. Song, cùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hoá, nguồn nhân lực trong nông nghiệp vận động theo xu hướng giảm xuống - Nguồn lao động nông thôn tham gia vào sản xuất lương thực thực. phẩm: Việt Nam là một nước có truyền thống nông nghiệp lâu đời dân số sống chủ yếu bằng nghề nông. Vì vậy, nguồn lao động nông thôn tham gia vào sản xuất nông nghiệp là rất đông đảo.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tẾ và sự gia tăng về dân số thì nhu cầu về lương thực thực phẩm ngày càng gia tăng. Việc sản xuất lương thực thực phẩm chỉ có thể đạt được trong ngành nông nghiệp và sức lao động để tạo ra lương thực, thực phẩm là do nguồn lao. động nông thôn cung cấp. Nền kinh tế phát triển gắn với sự phát triển của quá trình đô thị hoá, thu nhập của người dân tăng lên đòi hỏi khối lượng lương thực, thực phẩm ngày càng lớn và yêu cầu về chất lượng cũng ngày càng cao.
Để có thể đáp ứng đủ về số lượng và đáp ứng yêu cầu về chất lượng thì nguồn lao động nông thôn phải được nâng cao về trình độ tay nghề và kinh nghiệm. - Nguồn lao động nông thôn tham gia vào quá trình sản xuất nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Nông - Lâm - Thuỷ sản: Công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản với các yếu tố đầu vào là các sản phẩm mà người lao. động nông thôn làm ra. Trong thời kỳ CNH - HĐH thì phát triển công nghiệp chế biến là rất quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp.
~ Lao động nông thôn là thị trường tiêu thụ sản phẩm của các ngành khác: Lao động nông thôn là thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn của các 15 ngành khác và của chính bản thân ngành nông nghiệp. Đặc điểm của nguén lao động ở nông thôn Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có đặc điểm khác với đặc điểm của các ngành khác. Vì vậy, lao động nông thôn cũng có những đặc điểm khác với lao động ở các ngành kinh tế khác, cụ thể nó biểu hiện ở các mặt Sau: ~ Nguồn lao động nông thôn rất dồi dào, đa dạng về độ tuổi và có thích ứng lớn. - Lao động nông thôn mang tính thời vụ cao, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ nhau song lại không hoàn toàn trùng khớp nhau.
~ Lao động nông thôn ít chuyên sâu, trình độ chưa cao, khả năng tiếp. cận thì trường thấp. Đào tạo nghề và đặc điểm của đào tạo nghề cho lao động nông thôn a. Khái niệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn Tác giả Lương Văn Úc (2003) cho rằng “Nghề là một hình thức phân.
công lao động, nó được biểu thị bằng những kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành dé hoàn thành những công việc nhất định. Những công việc được sắp xếp vào một nghề là những công việc đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp như nhau, thực hiện trên những máy móc, thiết bị, dụng cụ tương ứng như nhau, tạo ra sản phẩm thuộc về cùng một dạng” [16]. Theo Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu (2008), “Nghề là một dạng. xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội , là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định” BÌ Như vậy có thê hiểu nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao.
16 động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. “Đào tạo nghề: Điều 3 Luật Giáo dục nghề nghiệp 74/2014/QH13 thì Đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc đẻ nâng cao trình độ nghề nghiệp [9] Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là việc kết hợp giữa dạy nghề và học nghề, là quá trình mà người dạy học truyền đạt kiến thức, kỹ năng cho. người lao động nông thôn đẻ có được kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo về nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Đặc điểm đào tạo nghề cho lao động nông thôn Thứ nhất, người lao động ở nông thôn được tham gia chương trình dio tạo nghề của Chính phủ ban hành.
Thứ hai, kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề được lấy từ ngân sách trung. ương, địa phương, doanh nghiệp. Thứ ba, đào tạo nghề phải gắn với giải quyết việc làm cho người lao. Thứ tư, đào tạo nghề hướng tới từng bước xoá bỏ sự cách biệt cứng nhắc giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị, giữa lao động chân tay và lao động trí óc.
Thứ năm, sự liên kết giữa các bên tham gia ở tắt cả các khâu của đào. Thứ sáu, từng bước thay đổi những định hướng giá trị nghề nghiệp trong đó kết hợp hài hoà giữa lợi ích, nhu cầu cá nhân và xã hội. Thứ bảy, chuyên dần từ đào tạo nghề một lần sang đào tạo, bồi dưỡng. liên tục, suốt đời.
Quản lý nhà nước về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn a. Khái niệm Quản lý, Quản lý nhà nước Theo từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển Việt Nam thì quản lý nhà nước là tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế, xã hội theo pháp luật. Theo giáo trình Khoa học hành chính (2010), Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính: “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước. Đó là những hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan quản lý nhà nước tiến hành đối với mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương, nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ôn định an ninh trật tự và thúc đây xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của Nhà nước” [23, tr.
Quản lý nhà nước về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn “Quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề là một dạng quản lý do. các cơ quan trong bộ máy nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chỉ phối mọi hoạt động liên quan đến dạy nghề (gồm: chiến lược, quy hoạch, chính sách, tô chức hoạt động của các cơ sở dạy nghề, đào tạo bồi dưỡng giáo. viên, cán bộ quản lý.) nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương trong hoạt động dạy nghề, thực hiện được mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp đáp ứng được yêu ố lượng và chất lượng, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế và tiến trình hội nhập của khu vực và quốc tế; đảm bảo tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của hoạt động dạy nghẻ. Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn là hoạt động.
quản lý của cơ quan quản lý đào tạo nghề từ trung ương đến địa phương đối 18 với các cơ sở đào tạo nghề nhằm hỗ trợ LĐNT học nghề, đào tạo nguồn nhân lực để cung cấp cho thị trường lao động. “Chủ thể quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn là hệ thống các cơ quan quyền lực của Nhà nước, trực tiếp là Chính phủ và hệ thống bộ máy quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương. Đối tượng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho LĐNT là hệ thống các cơ sở đào tạo và lao động nông thôn tham gia vào quá trình đào tạo nghề. Vai trò của Nhà nước trong QLNN về công tác đào tạo nghề cho LDNT Thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực đào tạo nghề Tất cả những hoạt động quản lý của nhà nước nhằm mục đích đề ra chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tổng thể thực hiện mục tiêu chiến lược đào.