Luận văn Thạc sĩ: Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Pleiku

Luận văn thạc sĩ phân tích công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Pleiku, Gia Lai, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Tác giả

Hoàng Thị Thao

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

131
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho LĐNT Pleiku

Quản lý nhà nước về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn (LĐNT) là một nhiệm vụ chiến lược, đóng vai trò then chốt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Với đặc thù là một đô thị trung tâm vùng Bắc Tây Nguyên, Pleiku có lực lượng lao động nông thôn chiếm tỷ trọng đáng kể, khoảng 20% tổng số lao động (năm 2018). Do đó, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ thông qua đào tạo nghề không chỉ là giải pháp nâng cao thu nhập cho nông dân mà còn là động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn. Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế của tác giả Hoàng Thị Thao đã đi sâu phân tích và hệ thống hóa cơ sở lý luận, chỉ rõ vai trò của quản lý nhà nước trong việc định hướng, xây dựng chính sách, và tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo. Hoạt động này bao gồm việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng chiến lược dài hạn, tổ chức bộ máy quản lý và kiểm định chất lượng. Mục tiêu cuối cùng là trang bị cho người lao động những kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của thị trường, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Gia Lai. Một hệ thống quản lý nhà nước hiệu quả sẽ tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi, khuyến khích sự tham gia của toàn xã hội, và đảm bảo công bằng về cơ hội học nghề cho mọi đối tượng, đặc biệt là lao động ở các xã vùng ven và đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là nền tảng để xây dựng nông thôn mới và hướng tới phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững.

1.1. Vai trò của quản lý nhà nước trong phát triển nhân lực

Quản lý nhà nước (QLNN) giữ vai trò định hướng và điều tiết toàn bộ hoạt động đào tạo nghề. Thông qua việc ban hành hệ thống chính sách và văn bản pháp luật, nhà nước tạo ra một môi trường pháp lý thống nhất, minh bạch. Chức năng này không chỉ giúp các cơ sở dạy nghề hoạt động đúng quy định mà còn bảo vệ quyền lợi của người học. QLNN đề ra chiến lược và quy hoạch tổng thể, tránh tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí nguồn lực và đảm bảo việc đào tạo đáp ứng đúng nhu cầu của nền kinh tế. Hơn nữa, nhà nước còn thực hiện chức năng đảm bảo công bằng xã hội, tạo cơ hội học nghề cho các đối tượng yếu thế thông qua các chính sách phát triển nguồn nhân lực đặc thù. Việc này góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ.

1.2. Đặc điểm lao động tại Pleiku và tầm quan trọng đào tạo

Lao động tại Pleiku mang những đặc điểm riêng biệt của một đô thị đang phát triển. Theo thống kê năm 2018, trong tổng số 146.487 người trong độ tuổi lao động, có đến 29.485 người là lao động nông thôn. Đặc điểm lao động tại Pleiku là lực lượng dồi dào nhưng trình độ tay nghề chưa cao, phần lớn làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp truyền thống. Quá trình đô thị hóa và chuyển dịch kinh tế sang công nghiệp - dịch vụ đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao kỹ năng cho lực lượng này. Đào tạo nghề trở thành chìa khóa để họ có thể thích ứng, chuyển đổi nghề nghiệp và tham gia vào các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao hơn. Nếu không được đào tạo bài bản, lao động nông thôn sẽ khó có cơ hội tìm kiếm việc làm ổn định, dẫn đến nguy cơ gia tăng chênh lệch giàu nghèo.

II. Thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Pleiku

Việc phân tích thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Pleiku giai đoạn 2014-2018 cho thấy những kết quả tích cực bên cạnh nhiều tồn tại, thách thức. Mặc dù chính quyền địa phương đã có nhiều nỗ lực trong việc triển khai các chính sách của Đảng và Nhà nước, công tác quản lý và tổ chức thực hiện vẫn còn những hạn chế. Một trong những vấn đề nổi cộm là công tác điều tra, khảo sát và dự báo nhu cầu học nghề chưa sát với thực tế. Điều này dẫn đến tình trạng đào tạo không gắn liền với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, gây lãng phí nguồn lực và khiến người lao động khó giải quyết việc làm sau đào tạo. Theo luận văn của Hoàng Thị Thao, nhiều chương trình đào tạo vẫn còn mang tính hình thức, chưa thực sự trang bị được kỹ năng thực hành cần thiết. Việc đánh giá hiệu quả chính sách công cho thấy một bộ phận nông dân chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của học nghề, coi đây là lựa chọn cuối cùng. Thêm vào đó, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, chưa tạo thành một chuỗi liên kết chặt chẽ. Những bất cập này là rào cản lớn đối với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn và phát triển bền vững tại địa phương.

2.1. Phân tích những hạn chế trong chính sách công hiện hành

Mặc dù đã có hệ thống văn bản chỉ đạo từ trung ương đến địa phương, việc triển khai chính sách công về đào tạo nghề tại Pleiku vẫn gặp nhiều vướng mắc. Công tác khảo sát nhu cầu học nghề và nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp thường không được thực hiện bài bản do thiếu kinh phí và nhân lực. Số liệu thu thập được đôi khi mang tính hình thức, dẫn đến việc xây dựng kế hoạch đào tạo hàng năm thiếu cơ sở thực tiễn. Việc đánh giá hiệu quả chính sách công cho thấy cơ chế phối hợp giữa Sở LĐTB&XH, các phòng ban cấp thành phố và chính quyền cấp xã chưa thực sự nhịp nhàng, làm giảm hiệu quả chỉ đạo và thực thi.

2.2. Thách thức trong giải quyết việc làm sau đào tạo

Thách thức lớn nhất hiện nay là tỷ lệ lao động có việc làm ổn định sau khi tốt nghiệp các khóa đào tạo nghề ngắn hạn còn chưa cao. Nguyên nhân chính là do chương trình đào tạo chưa bắt kịp sự thay đổi công nghệ của doanh nghiệp. Tình trạng đào tạo theo những gì cơ sở dạy nghề có sẵn thay vì theo nhu cầu thị trường vẫn còn phổ biến. Việc thiếu vắng cơ chế liên kết doanh nghiệp và cơ sở dạy nghề một cách bền vững khiến đầu ra cho người học không được đảm bảo. Điều này không chỉ gây lãng phí ngân sách nhà nước mà còn làm giảm lòng tin của người dân vào các chương trình đào tạo nghề, ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu nâng cao thu nhập cho nông dân.

III. Hướng dẫn hoàn thiện quản lý đào tạo nghề tại Pleiku

Để tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Pleiku, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp mang tính hệ thống. Trọng tâm là hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao năng lực của bộ máy quản lý. Trước hết, cần đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo tính thực tiễn và khả thi. Các chính sách phát triển nguồn nhân lực phải được xây dựng dựa trên kết quả khảo sát nhu cầu thị trường lao động một cách khoa học và định kỳ. Việc tổ chức lại bộ máy quản lý đào tạo nghề theo hướng tinh gọn, hiệu quả là yêu cầu cấp thiết. Cần phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn giữa các cơ quan từ cấp thành phố đến cấp xã, tránh sự chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ. Yếu tố then chốt khác là tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và đánh giá hiệu quả chính sách công. Hoạt động này phải được thực hiện thường xuyên, minh bạch để kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những sai phạm, đảm bảo nguồn lực đầu tư của nhà nước được sử dụng đúng mục đích và mang lại hiệu quả cao nhất. Việc này sẽ góp phần củng cố kỷ cương, nâng cao trách nhiệm của các bên liên quan trong hệ thống đào tạo nghề.

3.1. Cải cách bộ máy và cơ chế chính sách phát triển nhân lực

Cần kiện toàn Ban chỉ đạo công tác đào tạo nghề của thành phố, nâng cao vai trò tham mưu của Phòng LĐTB&XH. Cán bộ chuyên trách cần được bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên để nắm vững các quy định pháp luật và có khả năng phân tích, dự báo thị trường lao động. Về cơ chế, cần xây dựng các chính sách khuyến khích cụ thể, thu hút doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng chương trình và đánh giá chất lượng đào tạo. Các chính sách phát triển nguồn nhân lực cần có sự tham gia đóng góp ý kiến từ chính các cơ sở đào tạo và cộng đồng doanh nghiệp để đảm bảo tính thực tiễn.

3.2. Tăng cường thanh tra và đánh giá hiệu quả chính sách công

Hoạt động thanh tra, kiểm tra không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra hồ sơ, sổ sách mà cần đi sâu vào đánh giá hiệu quả chính sách công trên thực tế. Cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá rõ ràng, tập trung vào các chỉ số như: tỷ lệ học viên có việc làm sau đào tạo, mức tăng thu nhập bình quân, mức độ hài lòng của doanh nghiệp sử dụng lao động. Kết quả kiểm tra phải được công khai để xã hội cùng giám sát. Đồng thời, cần xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong quản lý tài chính, tuyển sinh và cấp chứng chỉ, góp phần làm lành mạnh hóa môi trường đào tạo nghề.

IV. Bí quyết nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho nông dân

Giải pháp cốt lõi để thu hút lao động nông thôn tham gia học nghề và đảm bảo hiệu quả đầu ra chính là nâng cao chất lượng đào tạo. Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cần tập trung vào việc đổi mới toàn diện từ nội dung, chương trình đến phương pháp giảng dạy. Thay vì đào tạo dàn trải, cần xây dựng các mô hình đào tạo nghề hiệu quả, gắn chặt với thế mạnh kinh tế của địa phương như nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông sản, và du lịch cộng đồng. Chương trình đào tạo cần được thiết kế theo hướng linh hoạt, dựa trên năng lực thực hành, với thời lượng thực tập tại doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Đặc biệt, việc đẩy mạnh liên kết doanh nghiệp và cơ sở dạy nghề là yếu tố sống còn. Doanh nghiệp không chỉ là nơi tiếp nhận học viên thực tập mà còn phải tham gia vào quá trình xây dựng chương trình, đặt hàng đào tạo và cam kết tuyển dụng. Bên cạnh đó, cần đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên. Chỉ khi chất lượng đào tạo được đảm bảo, người lao động mới thực sự có kỹ năng để tự tin bước vào thị trường lao động, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Gia Lai.

4.1. Xây dựng mô hình đào tạo nghề hiệu quả gắn với thực tiễn

Các mô hình đào tạo nghề hiệu quả cần được xây dựng dựa trên nguyên tắc “cầm tay chỉ việc”. Thay vì chỉ học lý thuyết tại trung tâm, học viên cần được thực hành trực tiếp tại các mô hình sản xuất, trang trại hoặc xưởng của doanh nghiệp. Các lớp học lưu động tại xã, phường cũng là một hình thức hiệu quả, giúp người dân tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại. Nội dung đào tạo cần tập trung vào các kỹ năng ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp, chế biến sau thu hoạch và các nghề phi nông nghiệp đang có nhu cầu cao tại địa phương.

4.2. Tăng cường liên kết doanh nghiệp và cơ sở dạy nghề

Mối liên kết doanh nghiệp và cơ sở dạy nghề cần được thể chế hóa bằng các hợp đồng hợp tác cụ thể. Cơ chế “ba bên”: Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp phải được vận hành một cách đồng bộ. Nhà nước tạo cơ chế ưu đãi về thuế, đất đai cho các doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề. Doanh nghiệp đặt hàng đào tạo và cam kết tuyển dụng. Cơ sở dạy nghề chịu trách nhiệm tổ chức đào tạo theo đúng yêu cầu của doanh nghiệp. Mô hình này đảm bảo việc đào tạo luôn bám sát thực tiễn sản xuất, khắc phục triệt để tình trạng “học xong không có việc làm”.

V. Mô hình đào tạo nghề giúp chuyển dịch cơ cấu lao động

Kinh nghiệm từ các địa phương khác là bài học quý báu cho Pleiku trong việc triển khai các mô hình đào tạo nghề hiệu quả. Luận văn đã phân tích trường hợp thành công của huyện Bố Trạch (Quảng Bình) và huyện Định Quán (Đồng Nai). Các địa phương này đã thành công trong việc đa dạng hóa ngành nghề đào tạo, từ nông nghiệp công nghệ cao đến dịch vụ du lịch, phù hợp với chiến lược phát triển của từng vùng. Điểm chung của họ là công tác tuyên truyền, tư vấn hướng nghiệp được thực hiện bài bản, đến từng thôn xóm. Họ cũng rất chú trọng việc tổ chức các lớp học linh hoạt, “cầm tay chỉ việc” và đẩy mạnh liên kết doanh nghiệp và cơ sở dạy nghề. Áp dụng những kinh nghiệm này, Pleiku có thể xây dựng các mô hình đào tạo phù hợp, giúp thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn một cách mạnh mẽ. Khi lao động nông thôn được trang bị tay nghề, họ có thể chuyển sang làm việc trong các khu công nghiệp, doanh nghiệp dịch vụ hoặc tự tạo việc làm, khởi nghiệp. Quá trình này không chỉ giúp nâng cao thu nhập cho nông dân mà còn giảm áp lực cho ngành nông nghiệp, góp phần phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững.

5.1. Kinh nghiệm thực tiễn từ Bố Trạch Quảng Bình và Định Quán

Tại Bố Trạch, việc dạy nghề lưu động tại các xã và chú trọng thực hành đã phát huy hiệu quả cao, đặc biệt trong các ngành trồng trọt và du lịch. Tại Định Quán, thành công đến từ việc phân loại đối tượng đào tạo: lao động trẻ được định hướng học các nghề công nghiệp, lao động lớn tuổi học các nghề nông nghiệp nâng cao. Cả hai địa phương đều làm tốt công tác khảo sát nhu cầu và phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp, đảm bảo đầu ra cho người học. Đây là những bài học kinh nghiệm quý giá về tính linh hoạt và thực tiễn mà Pleiku có thể học hỏi.

5.2. Kết quả ứng dụng tại Pleiku và tiềm năng nâng cao thu nhập

Pleiku đã bước đầu triển khai một số mô hình đào tạo gắn với thực tiễn như dệt thổ cẩm, kỹ năng làm du lịch cộng đồng, trồng và chăm sóc cây công nghiệp theo tiêu chuẩn VietGAP. Những mô hình này đã cho thấy kết quả khả quan, giúp một bộ phận lao động cải thiện kỹ năng và tăng thu nhập. Tiềm năng là rất lớn, nếu các mô hình đào tạo nghề hiệu quả được nhân rộng, kết hợp với chính sách hỗ trợ vốn vay và kết nối thị trường, chắc chắn sẽ tạo ra một làn sóng chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, góp phần đáng kể vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo và nâng cao thu nhập cho nông dân một cách bền vững.

VI. Tương lai đào tạo nghề cho LĐNT xây dựng nông thôn mới

Công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn không phải là mục tiêu cuối cùng mà là phương tiện quan trọng để thực hiện các mục tiêu phát triển lớn hơn. Tương lai của hoạt động này tại Pleiku gắn liền với chiến lược xây dựng nông thôn mớiphát triển nông nghiệp nông thôn bền vững. Một khi chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ được nâng cao, bộ mặt nông thôn sẽ thay đổi toàn diện. Người nông dân không chỉ giỏi về sản xuất nông nghiệp mà còn có thể tham gia vào các chuỗi giá trị khác như chế biến, dịch vụ, du lịch. Điều này tạo ra sự đa dạng về kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào nông nghiệp thuần túy và tăng cường sức chống chịu của kinh tế nông thôn trước những biến động của thị trường. Định hướng trong giai đoạn tới là tiếp tục hoàn thiện vai trò của quản lý nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia vào công tác đào tạo nghề. Mục tiêu không chỉ là giải quyết việc làm sau đào tạo mà còn là hình thành một thế hệ lao động nông thôn mới: năng động, sáng tạo, có kỹ năng và tư duy kinh tế, làm chủ công nghệ, và là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp phát triển của kinh tế xã hội tỉnh Gia Lai.

6.1. Định hướng phát triển nguồn nhân lực tại chỗ giai đoạn tới

Trong giai đoạn tiếp theo, Pleiku cần tập trung đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ theo chiều sâu, đáp ứng các tiêu chuẩn của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Các ngành nghề ưu tiên bao gồm nông nghiệp thông minh, tự động hóa trong chế biến, thương mại điện tử và dịch vụ logistics. Cần có chiến lược dài hạn để liên thông giữa đào tạo nghề và giáo dục đại học, tạo điều kiện cho lao động nông thôn học tập suốt đời. Việc đầu tư vào con người chính là đầu tư bền vững nhất cho tương lai phát triển của thành phố.

6.2. Góp phần phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững tại Gia Lai

Đào tạo nghề chất lượng cao là nền tảng cho phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững. Khi nông dân được trang bị kiến thức về canh tác hữu cơ, quản lý tài nguyên nước, sử dụng công nghệ sinh học, họ sẽ tạo ra những sản phẩm nông nghiệp an toàn, giá trị cao và thân thiện với môi trường. Đồng thời, việc phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp ngay tại nông thôn sẽ giúp giảm di cư ra thành thị, ổn định xã hội và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, đóng góp trực tiếp vào thành công của chương trình xây dựng nông thôn mới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý nhà nước về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn thành phố pleiku tỉnh gia lai

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. - Chương 2: Thực trang quản lý nhà nước về công tác đào tạo nghề cho. lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. - Chương 3: Giải pháp tăng cường QLNN về công tác đào tạo nghề cho.

lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. 13 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ CÔNG TÁC DAO TAO NGHE CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. NHỮNG VÁN ĐÈ CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VẺ CÔNG TAC ĐÀO TẠO NGHE CHO LAO DONG NONG THON 1. Lao động, lao động nông thôn và đặc điểm của lao động nông thôn a.

Các khái gm *= Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của minh [22] ~ Nguồn lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả. năng lao động (theo quy định của nhà nước: nam có tuổi từ 16-60; nữ tuôi từ 16-55) [22] ~ Nguồn lao động nông thôn (LĐNT) là một bộ phận dân số sinh sống. và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuôi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động [22]. - Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những người trong độ tuôi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm [9].

Tuy nhiên, do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình. Từ khái niệm nguồn lao động ở nông thôn mà ta thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào, nhưng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm ở nông thôn. Vai trò của lao động nông thôn 14 ~ Nguồn lao động nông thôn tham gia vào quá trình phát triển các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, nguồn lực trong nông nghiệp có số lượng lớn và chiếm tỷ trọng cao trong.

tông số lao động xã hội. Song, cùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hoá, nguồn nhân lực trong nông nghiệp vận động theo xu hướng giảm xuống - Nguồn lao động nông thôn tham gia vào sản xuất lương thực thực. phẩm: Việt Nam là một nước có truyền thống nông nghiệp lâu đời dân số sống chủ yếu bằng nghề nông. Vì vậy, nguồn lao động nông thôn tham gia vào sản xuất nông nghiệp là rất đông đảo.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tẾ và sự gia tăng về dân số thì nhu cầu về lương thực thực phẩm ngày càng gia tăng. Việc sản xuất lương thực thực phẩm chỉ có thể đạt được trong ngành nông nghiệp và sức lao động để tạo ra lương thực, thực phẩm là do nguồn lao. động nông thôn cung cấp. Nền kinh tế phát triển gắn với sự phát triển của quá trình đô thị hoá, thu nhập của người dân tăng lên đòi hỏi khối lượng lương thực, thực phẩm ngày càng lớn và yêu cầu về chất lượng cũng ngày càng cao.

Để có thể đáp ứng đủ về số lượng và đáp ứng yêu cầu về chất lượng thì nguồn lao động nông thôn phải được nâng cao về trình độ tay nghề và kinh nghiệm. - Nguồn lao động nông thôn tham gia vào quá trình sản xuất nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Nông - Lâm - Thuỷ sản: Công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản với các yếu tố đầu vào là các sản phẩm mà người lao. động nông thôn làm ra. Trong thời kỳ CNH - HĐH thì phát triển công nghiệp chế biến là rất quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp.

~ Lao động nông thôn là thị trường tiêu thụ sản phẩm của các ngành khác: Lao động nông thôn là thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn của các 15 ngành khác và của chính bản thân ngành nông nghiệp. Đặc điểm của nguén lao động ở nông thôn Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có đặc điểm khác với đặc điểm của các ngành khác. Vì vậy, lao động nông thôn cũng có những đặc điểm khác với lao động ở các ngành kinh tế khác, cụ thể nó biểu hiện ở các mặt Sau: ~ Nguồn lao động nông thôn rất dồi dào, đa dạng về độ tuổi và có thích ứng lớn. - Lao động nông thôn mang tính thời vụ cao, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ nhau song lại không hoàn toàn trùng khớp nhau.

~ Lao động nông thôn ít chuyên sâu, trình độ chưa cao, khả năng tiếp. cận thì trường thấp. Đào tạo nghề và đặc điểm của đào tạo nghề cho lao động nông thôn a. Khái niệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn Tác giả Lương Văn Úc (2003) cho rằng “Nghề là một hình thức phân.

công lao động, nó được biểu thị bằng những kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành dé hoàn thành những công việc nhất định. Những công việc được sắp xếp vào một nghề là những công việc đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp như nhau, thực hiện trên những máy móc, thiết bị, dụng cụ tương ứng như nhau, tạo ra sản phẩm thuộc về cùng một dạng” [16]. Theo Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu (2008), “Nghề là một dạng. xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội , là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định” BÌ Như vậy có thê hiểu nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao.

16 động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. “Đào tạo nghề: Điều 3 Luật Giáo dục nghề nghiệp 74/2014/QH13 thì Đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc đẻ nâng cao trình độ nghề nghiệp [9] Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là việc kết hợp giữa dạy nghề và học nghề, là quá trình mà người dạy học truyền đạt kiến thức, kỹ năng cho. người lao động nông thôn đẻ có được kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo về nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Đặc điểm đào tạo nghề cho lao động nông thôn Thứ nhất, người lao động ở nông thôn được tham gia chương trình dio tạo nghề của Chính phủ ban hành.

Thứ hai, kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề được lấy từ ngân sách trung. ương, địa phương, doanh nghiệp. Thứ ba, đào tạo nghề phải gắn với giải quyết việc làm cho người lao. Thứ tư, đào tạo nghề hướng tới từng bước xoá bỏ sự cách biệt cứng nhắc giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị, giữa lao động chân tay và lao động trí óc.

Thứ năm, sự liên kết giữa các bên tham gia ở tắt cả các khâu của đào. Thứ sáu, từng bước thay đổi những định hướng giá trị nghề nghiệp trong đó kết hợp hài hoà giữa lợi ích, nhu cầu cá nhân và xã hội. Thứ bảy, chuyên dần từ đào tạo nghề một lần sang đào tạo, bồi dưỡng. liên tục, suốt đời.

Quản lý nhà nước về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn a. Khái niệm Quản lý, Quản lý nhà nước Theo từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển Việt Nam thì quản lý nhà nước là tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế, xã hội theo pháp luật. Theo giáo trình Khoa học hành chính (2010), Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính: “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước. Đó là những hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan quản lý nhà nước tiến hành đối với mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương, nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ôn định an ninh trật tự và thúc đây xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của Nhà nước” [23, tr.

Quản lý nhà nước về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn “Quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề là một dạng quản lý do. các cơ quan trong bộ máy nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chỉ phối mọi hoạt động liên quan đến dạy nghề (gồm: chiến lược, quy hoạch, chính sách, tô chức hoạt động của các cơ sở dạy nghề, đào tạo bồi dưỡng giáo. viên, cán bộ quản lý.) nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương trong hoạt động dạy nghề, thực hiện được mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp đáp ứng được yêu ố lượng và chất lượng, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế và tiến trình hội nhập của khu vực và quốc tế; đảm bảo tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của hoạt động dạy nghẻ. Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn là hoạt động.

quản lý của cơ quan quản lý đào tạo nghề từ trung ương đến địa phương đối 18 với các cơ sở đào tạo nghề nhằm hỗ trợ LĐNT học nghề, đào tạo nguồn nhân lực để cung cấp cho thị trường lao động. “Chủ thể quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn là hệ thống các cơ quan quyền lực của Nhà nước, trực tiếp là Chính phủ và hệ thống bộ máy quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương. Đối tượng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho LĐNT là hệ thống các cơ sở đào tạo và lao động nông thôn tham gia vào quá trình đào tạo nghề. Vai trò của Nhà nước trong QLNN về công tác đào tạo nghề cho LDNT Thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực đào tạo nghề Tất cả những hoạt động quản lý của nhà nước nhằm mục đích đề ra chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tổng thể thực hiện mục tiêu chiến lược đào.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ