Tổng quan nghiên cứu

Khu vực nông thôn Việt Nam hiện chiếm khoảng 70% dân số và hơn 50% tổng lực lượng lao động xã hội, giữ vai trò trụ cột trong việc bảo đảm an ninh lương thực và cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai – trung tâm kinh tế, văn hóa của khu vực Bắc Tây Nguyên, lực lượng trong độ tuổi lao động năm 2018 ghi nhận 146.487 người (chiếm 62,8% tổng dân số), trong đó lao động nông thôn đạt 29.485 người, chiếm tỷ trọng trên 20%. Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm của địa phương duy trì ấn tượng trên 10%, thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đạt 61,11 triệu đồng (tăng 17,04% so với năm 2017), chất lượng nguồn nhân lực khu vực nông thôn vẫn chưa bắt kịp quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thương mại – dịch vụ chiếm 51,17% và công nghiệp – xây dựng chiếm 43,97%.

Vấn đề cốt lõi được đặt ra là sự mất cân đối giữa năng lực đào tạo của các cơ sở dạy nghề và nhu cầu thực tế từ 3.057 doanh nghiệp cùng 31 hợp tác xã đang hoạt động trên địa bàn. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đào tạo nghề, phân tích thực trạng triển khai tại thành phố Pleiku trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018, chỉ rõ các thành tựu và nguyên nhân của những tồn tại, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nâng cao hiệu lực quản lý đến năm 2025. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, công trình cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực phục vụ công tác quy hoạch mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, giúp nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ mức 52% (tương đương 62.100 người năm 2018) lên các mức mục tiêu cao hơn, tạo đòn bẩy vững chắc cho chương trình xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế của các nhà khoa học uy tín như Đỗ Hoàng Toàn và Mai Văn Bưu (2005), kết hợp giáo trình quản lý kinh tế của Phan Huy Đường (2015). Đồng thời, tác giả vận dụng lý thuyết phát triển lao động kỹ thuật của Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến (2004) cùng lý thuyết tâm lý học lao động của Lương Văn Úc (2003) để tiếp cận toàn diện hành vi học nghề của lao động nông thôn.

Mô hình nghiên cứu quy chuẩn hóa 6 nội dung quản lý nhà nước trọng tâm bao gồm: ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng và triển khai chiến lược, kế hoạch đào tạo nghề; kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý; ban hành các tiêu chuẩn và điều kiện tổ chức dạy nghề; thực hiện kiểm định chất lượng đào tạo; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật.

Khung phân tích gắn liền với 4 khái niệm cốt lõi:

  • Lao động nông thôn: Bộ phận dân số trong độ tuổi lao động sinh sống và làm việc tại khu vực nông thôn, có khả năng lao động.
  • Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Hoạt động trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp theo Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 giúp người học tự tạo việc làm hoặc chuyển đổi nghề.
  • Quản lý nhà nước về đào tạo nghề: Quá trình các cơ quan công quyền định hướng, điều hành, điều tiết hoạt động dạy nghề nhằm đáp ứng cung - cầu nhân lực xã hội.
  • Kiểm định chất lượng dạy nghề: Công cụ đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu đào tạo của cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo các tiêu chuẩn công khai.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê thành phố Pleiku, báo cáo chuyên đề giai đoạn 2014-2018 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Gia Lai, cùng số liệu khảo sát tại 540 hộ gia đình và 80 doanh nghiệp địa phương.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thực hiện với quy mô mẫu 120 đối tượng. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện, bao gồm 20 cán bộ quản lý và giáo viên (01 lãnh đạo phòng, 01 chuyên viên chuyên trách, 09 cán bộ lao động cấp xã, 09 giáo viên các trường nghề) cùng 100 lao động nông thôn tại 9 xã ngoại thành. Việc phân tầng mẫu giúp bảo đảm thu thập đầy đủ góc nhìn đa chiều từ cả chủ thể điều hành chính sách lẫn khách thể trực tiếp thụ hưởng.

Nghiên cứu kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh và phương pháp diễn dịch tổng hợp. Lý do lựa chọn các phương pháp này nhằm định lượng hóa mức độ hài lòng, đo lường sự tương thích giữa chính sách và thực tiễn, đồng thời giải thích rõ ràng các biến động dữ liệu đào tạo nghề trong mốc thời gian 2014-2018 phục vụ xây dựng giải pháp đến năm 2025.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã làm rõ bức tranh thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại thành phố Pleiku qua 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, quy mô đào tạo có sự biến động không đồng đều qua các năm. Trong cả giai đoạn 2014-2018, địa phương đã tổ chức 25 lớp đào tạo nghề cho 773 học viên. Trong đó, các lớp nghề nông nghiệp chiếm 13 lớp với 388 học viên (đạt 50,19%), nghề phi nông nghiệp chiếm 12 lớp với 385 học viên (đạt 49,81%). Số lượng học viên giảm mạnh từ 298 người năm 2014 xuống 160 người năm 2015, chạm đáy 65 người năm 2017 trước khi phục hồi lên 155 người năm 2018.

Thứ hai, nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất ghi nhận sự đóng góp lớn từ ngân sách. Giai đoạn 2012-2018, tổng kinh phí đầu tư cơ sở vật chất và thiết bị dạy nghề trên địa bàn đạt hơn 168 tỷ đồng. Nguồn vốn phân bổ gồm 93,279 tỷ đồng từ Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm - Dạy nghề (chiếm 55,5%) và 66,913 tỷ đồng từ ngân sách địa phương đối ứng (chiếm 39,8%), phục vụ hoàn thiện 23 trung tâm học tập cộng đồng tại 23 xã, phường cùng hệ thống các trường cao đẳng, trung cấp nghề.

Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu việc làm sau đào tạo đạt kết quả tích cực nhưng chưa đồng đều. Tỷ lệ lao động có việc làm ổn định sau khi học nghề đạt 94,2%, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố xuống còn 0,82% (436 hộ) vào năm 2018. Tuy nhiên, nhóm đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 11,6% dân số (khoảng 26.000 người) vẫn gặp nhiều trở ngại trong chuyển đổi nghề, chiếm tới 217 trên tổng số 436 hộ nghèo.

Thứ tư, công tác điều tra, dự báo nhu cầu học nghề chưa sát thực tế. Dù kế hoạch số 395/KH-UBND dự báo nhu cầu học nghề giai đoạn 2016-2020 lên tới 5.500 người, công tác thu thập số liệu cấp cơ sở thiếu kinh phí hỗ trợ thường xuyên khiến việc lập kế hoạch hằng năm còn mang tính hình thức, chưa liên kết chặt chẽ với nhu cầu tuyển dụng của hơn 3.000 doanh nghiệp trên địa bàn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những hạn chế trên bắt nguồn từ việc đội ngũ cán bộ làm công tác lao động - thương binh và xã hội cấp xã phần lớn làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, khối lượng công việc lớn dẫn đến việc tư vấn hướng nghiệp chưa sâu sát. Thêm vào đó, trang thiết bị thực hành tại một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp chưa bắt kịp tốc độ đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp chế biến nông sản và đá Granite tại Khu công nghiệp Trà Đa (quy mô 109,3 ha với 2.200 lao động).

Khi so sánh với bài học thành công tại huyện Định Quán (tỉnh Đồng Nai) về phân luồng học nghề theo nhóm tuổi và huyện Bố Trạch (tỉnh Quảng Bình) về mô hình "cầm tay chỉ việc" gắn với du lịch sinh thái, công tác quản lý tại Pleiku cần đẩy mạnh hơn nữa cơ chế gắn kết ba bên giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột kép so sánh biến động số học viên nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp, biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu nguồn vốn 168 tỷ đồng và bảng đối chiếu nhu cầu tuyển dụng của các cụm công nghiệp với danh mục nghề đào tạo thực tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại thành phố Pleiku giai đoạn 2021-2025, bốn nhóm giải pháp cụ thể được đề xuất:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản và ban hành cơ chế phối hợp ba bên. Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku cần chủ trì xây dựng quy chế phối hợp ràng buộc trách nhiệm giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và 3.057 doanh nghiệp. Áp dụng hình thức đặt hàng đào tạo theo địa chỉ sử dụng lao động, ban hành chính sách ưu đãi thuế và đất đai để khuyến khích các doanh nghiệp tại Khu công nghiệp Trà Đa và Cụm công nghiệp Diên Phú tiếp nhận học viên thực tập sản xuất từ năm 2021.

Thứ hai, đổi mới công tác khảo sát, nâng cao năng lực dự báo nhu cầu học nghề. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố cần phân bổ kinh phí cố định hằng năm cho hoạt động điều tra thống kê tại 175 thôn, làng, tổ dân phố. Mục tiêu phấn đấu đào tạo nghề bình quân 1.100 đến 1.200 lao động mỗi năm, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của thành phố đạt trên 65% vào năm 2025, trong đó tỷ lệ lao động có việc làm sau học nghề duy trì tối thiểu 90%.

Thứ ba, chuẩn hóa tổ chức bộ máy và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhà giáo. Ủy ban nhân dân các xã, phường phối hợp với Phòng Nội vụ tổ chức bồi dưỡng định kỳ 100% cán bộ phụ trách công tác lao động cấp xã về nghiệp vụ điều tra thị trường. Đồng thời, các trường dạy nghề cần cử giáo viên đi thực tế tại doanh nghiệp ít nhất 1 tháng mỗi năm để cập nhật công nghệ mới, chuyển đổi giáo trình sang phương pháp tiếp cận theo năng lực thực hành.

Thứ tư, siết chặt công tác kiểm định chất lượng và thanh tra liên ngành. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cùng các đơn vị chuyên môn thành phố Pleiku cần thiết lập quy trình kiểm định bắt buộc 100% cơ sở dạy nghề hằng năm. Định kỳ triển khai tối thiểu 2 cuộc thanh tra liên ngành mỗi năm về quản lý sử dụng kinh phí đào tạo, xử lý dứt điểm các sai phạm nhằm bảo đảm quyền lợi người học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Nhóm cán bộ lãnh đạo và chuyên viên tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Ủy ban nhân dân các cấp: Tài liệu cung cấp căn cứ thực tiễn để rà soát quy trình quản lý, xây dựng chỉ tiêu kế hoạch đào tạo nghề hằng năm và hoàn thiện chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm tại chỗ cho địa phương.

Ban giám hiệu, cán bộ quản lý và giáo viên tại các trường cao đẳng, trung cấp nghề và trung tâm học tập cộng đồng: Cung cấp góc nhìn thực chứng về nhu cầu của học viên và nhà tuyển dụng, làm cơ sở cải tiến chương trình đào tạo, tích hợp các lớp nghề truyền thống như dệt thổ cẩm làng Brel, cồng chiêng làng Chuet với phát triển du lịch cộng đồng.

Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công và Kinh tế phát triển: Cung cấp khung lý thuyết chuẩn hóa, hệ thống tiêu chí đo lường hiệu lực quản lý nhà nước và phương pháp luận khảo sát thực địa tại các địa bàn có đặc thù dân tộc thiểu số.

Các hiệp hội doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức phát triển nông thôn tại vùng Tây Nguyên: Nắm bắt bức tranh nhân lực lao động nông thôn, từ đó chủ động đề xuất liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng, tận dụng tối đa các chính sách hỗ trợ vốn vay giải quyết việc làm từ Ngân hàng Chính sách Xã hội.

Câu hỏi thường gặp

Mục tiêu cốt lõi của quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn là gì? Quản lý nhà nước nhằm định hướng, quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề đồng bộ, đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách và đáp ứng cân đối cung - cầu của thị trường lao động. Công tác này giúp lao động nông thôn nâng cao năng suất, tự tạo việc làm hoặc chuyển dịch sang công nghiệp - dịch vụ bền vững.

Giai đoạn 2014-2018, thành phố Pleiku đạt kết quả nổi bật nào trong công tác dạy nghề? Thành phố đã mở 25 lớp đào tạo cho 773 lao động với cơ cấu cân bằng giữa nghề nông nghiệp (50,19%) và phi nông nghiệp (49,81%). Tỷ lệ lao động có việc làm đạt 94,2%, đồng thời đầu tư hơn 168 tỷ đồng nâng cấp hạ tầng dạy nghề, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống 0,82%.

Rào cản lớn nhất trong công tác quản lý đào tạo nghề tại thành phố Pleiku là gì? Khó khăn lớn nhất là công tác điều tra, dự báo nhu cầu học nghề chưa sát do thiếu kinh phí và nhân lực kiêm nhiệm. Danh mục đào tạo còn phụ thuộc vào năng lực sẵn có của trường nghề thay vì bám sát yêu cầu kỹ thuật của hơn 3.000 doanh nghiệp trên địa bàn.

Luận văn đã đúc kết bài học kinh nghiệm nào từ các địa phương khác? Nghiên cứu rút ra bài học từ huyện Định Quán (Đồng Nai) về phân luồng đào tạo theo độ tuổi và huyện Bố Trạch (Quảng Bình) về đào tạo lưu động "cầm tay chỉ việc", đa dạng hóa nghề phi nông nghiệp gắn với chuỗi dịch vụ du lịch địa phương.

Mô hình liên kết ba bên cần được triển khai như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất? Cần xây dựng hợp đồng đặt hàng đào tạo cụ thể giữa chính quyền, nhà trường và doanh nghiệp. Doanh nghiệp tham gia góp ý giáo trình, tiếp nhận thực tập và tuyển dụng đầu ra, trong khi Nhà nước hỗ trợ kinh phí và giám sát chuẩn đầu ra của từng khóa học.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, chuẩn hóa 6 nội dung quản lý và tiêu chí đánh giá sát hợp với thực tiễn đô thị loại I vùng Tây Nguyên.
  • Phân tích chi tiết thực trạng giai đoạn 2014-2018 tại Pleiku với 773 học viên được đào tạo và nguồn vốn đầu tư 168 tỷ đồng, chỉ rõ khoảng cách giữa năng lực đào tạo và nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp có tính hành động cao, xác định rõ chủ thể thực hiện, lộ trình và các chỉ số định lượng cụ thể cho giai đoạn 2021-2025.
  • Đề ra định hướng chiến lược giúp nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của thành phố Pleiku vượt mức 65% vào năm 2025, gắn kết công tác dạy nghề với bảo tồn văn hóa truyền thống và an sinh xã hội.
  • Nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách; các cơ quan quản lý địa phương cần nhanh chóng thể chế hóa các đề xuất vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm nhằm tối ưu hóa nguồn lực nhân lực nông thôn.