CHƯƠNG 1: LY LUAN CHUNG VE QUAN LY NHA NƯỚC VÈ CHI KHÁM CHỮA BỆNH BAO HIẾM Y TE 1. KHAI QUAT VE QUAN LY NHA NUOC VE CHI KHAM CHỮA BỆNH BẢO HIẾM Y TE 1. Một số khái niệm. Bảo hiểm Bảo hiểm là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp những biến có làm giảm hoặc mắt khả năng lao.
động, mắt việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung. nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Bảo hiểm là một nghiệp vụ. Qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để thực hiện mong muốn cho.
mình hoặc cho người thứ ba, trong trường hợp xảy ra rủi ro, sẽ nhận được một khoản đền bù các tồn thất được trả bởi một bên khác, đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê. Bảo hiểm y tế là giải pháp quan trọng để phân tích, chứng minh đề làm rõ nhận định sức khoẻ là mối quan tâm đầu tiên của mỗi con người, những. giải pháp con người đã thực hiện để bảo vệ sức khoẻ.
Những nội dung cơ bản thể hiện vai trò của bảo hiểm y tế và phân tích làm rõ đặc điểm cơ bản nhất của bảo hiểm y tế là một bộ phận của chính sách an sinh xã hội, có nhà nước tham gia thực hiện, phát huy được đoàn kết cộng đồng, chia xẻ rủi ro về sức. khoẻ và hoạt động không vì lợi nhuận. Trong nghiên cứu những vấn đề cơ bản về bảo hiểm y tế, phân tích, làm rõ đối tượng bảo hiểm y tế là mọi người dân trong xã hội, đối tượng bảo hiểm y tế là sức khoẻ của người được bảo hiểm. Phạm vi của bảo hiểm y tế chính là các chỉ phí khám chữa bệnh khi 11 người được bảo hiểm gặp phải các rủi ro về sức khoẻ.
Tuy nhiên, phạm vi của bảo hiểm y tế không chỉ bao gồm chỉ phí khám chữa bệnh mà còn có thể gồm cả chỉ phí phòng bệnh và chi phí phục hồi chức năng. Nhưng bảo hiểm y tế loại trừ những trường hợp như cố tình huỷ hoại bản thân, say rượu, vi phạm pháp luật. Căn cứ vào việc thanh toán chỉ phí khám chữa bệnh cho người có thẻ bảo hiểm y tế, bảo hiểm y tế được phân ra thành: 'Bảo hiểm y tế trọn gói. Bảo hiểmy tế trọn gói, trừ các đại phẫu thuật 'Bảo hiểm y tế thông thường.
Căn cứ vào tính chất bắt buộc hay không khi thực hiện chính sách bảo. hiểm y tế, bảo hiểm y tế được chia thành: bảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm. y tế tự nguyện. Quỹ tài chính bảo hiểm y tế là quỹ độc lập, có quy mô phụ thuộc chủ yếu số thành viên đóng góp và mức phí đóng góp.
Qũy bảo hiểm y tế được sử dụng cho các mục đích như chỉ thanh toán chỉ phí khám chữa bệnh cho người được hưởng bảo hiểm y tế; Chỉ dự trữ - dự phòng dao động lớn; Chỉ đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ bảo hiểm y tế theo nguyên tắc an toàn, hiệu quả và chỉ quản lý. Phân loại ~ Theo phương thức quản lý: Bảo hiểm được chia làm 2 hình thức là bắt buộc và tự nguyện: bắt buộc là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mat thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm y tế. Và tự nguyện là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng. ~ Theo mục đích hoạt động: bảo hiểm được chia làm 2 loại là bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thương mại.
Bảo hiểm y tế Theo luật BHYT, Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp. dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật BHYT đẻ chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện. Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm. sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện.
BHYT nhằm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm y tế, trên cơ sở lấy số đông bù số ít, người khoẻ hỗ trợ người đau ốm, người có khả năng đóng góp hỗ trợ người khó khăn. Mức đóng bảo hiểm y tế được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc theo quy định của Luật BHYT, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu. Mức hưởng bảo hiểm y tế theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi và thời gian tham gia BHYT. 'Bảo hiểm y tế có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng, cụ thể như sau: Một là, giúp người dân khắc phục khó khăn, chủ động về mặt tài chính khi gặp rủi ro liên quan tới sức khỏe của mình, đảm bảo sự công bằng trong KCB và điều trị Hai là, tạo điều kiện để mọi người dân đều được tiếp cận với những dịch vụ y tế hiện đại, từ đó nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.
Cho dù dịch vụ y tế ngày càng đắt đỏ, giá thuốc ngày càng có xu hướng tăng cao, trang thiết bị y tế ngày càng hiện đại và đắt tiền, song mọi người dân đều được KCB và điều trị. Ba là, góp phần nâng cấp các cơ sở KCB và điều trị, giảm nhẹ gánh nặng. cho ngân sách nhà nước. BHYT ra đời đã tích cực góp phần đảm bảo an sinh xã hội trong điều kiện hiện nay trên toàn thế giới.
13 Bản chất của BHYT là chia sẻ, phân tán nguy cơ và tăng nguồn tài chính cho y tế. Vì vậy chính sách này tác động hết sức tích cực đến xã hội. BHYT giúp tăng nguồn tài chính cho y tế rất lớn, góp phan tăng quy mô và chất lượng của các dịch vụ y tế phục vụ nhân dân, đồng thời giảm ngân sách đầu tư cho y tế để đầu tư cho các ngành quan trọng khác của đất nước. Với BHYT người nghèo không phải lo lắng là không được chăm sóc sức khỏe khi bị đau yếu vì lý do không có tiền.
Nói cách khác BHYT đã làm tăng tính tiếp cận các dịch vụ y tế của người dân, đặc biệt là trong nhóm nghèo và cận nghèo. Đây chính là biểu hiện của việc tăng tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe khi người giàu cũng như người nghèo đều có thể sử dụng các dịch vụ y tế lúc đau yếu. Ngoài ra với việc chia sẻ nguy cơ giữa người khỏe và người ốm, giữa người giàu và người nghèo, BHYT đã thể hiện một tính nhân văn vô cùng sâu sắc cần được khuyến khích phát triển. Chỉ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế Chỉ bảo hiểm y tế thể hiện các quan hệ hình thành trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế nhằm đảm bảo mục tiêu ôn định đời sống.
và chăm sóc sức khỏe cho người tham gia bảo hiểm y tế. Quỹ bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất công khai, minh bạch, đảm bảo cân đối thu chỉ và được Nhà nước bảo hộ. Do mức độ quan trọng của quỹ BHYT là rất lớn, đó chính là nguồn chỉ trả cho những người tham BHYT khi KCB, đảm bảo cho sự hoạt động hiệu quả của mạng lưới BHYT trong cả nước nên việc quản lý nguồn thu cũng như việc chỉ tiêu quỹ BHYT phải được tiến hành hết sức cẩn thận và minh bạch. Đề tránh tình trạng.
lạm dụng quy, sử dụng sai mục đích thì quỹ BHYT phải được quản lý một cách tập trung, thống nhất, công tác chỉ quỹ phải được minh bạch, rõ ràng, nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác quản lý chỉ của quỹ BHYT. Quản lý nhà nước về chỉ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế a.W Taylor, “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và được biết một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [30]. Henry Fayol quan niệm: “Quản lý là một tiến trình bao gồm tắt cả các khâu như lập kế hoạch, tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng hiệu quả các nguồn lực vật chất của tô chức để đạt được mục tiêu đề ra” [21]. Như vậy, quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được mục đích của người quản lý.
Quản lý Nhà nước về chỉ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ. máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ồn định và phát triển của xã hội.[13] Nha nước là chủ thẻ tổ chức và quản lý các hoạt động chỉ khám chữa bệnh BHYT. Nhà nước sử dụng hệ thống pháp luật và công cụ cường chế mang tính quyền lực nhà nước đề tác động và điều chỉnh hoạt động chi KCB BHYT. Quản lý nhà nước về chỉ KCB BHYT: là sự tác động, điều hành của Nhà nước trong thực hiện các nội dung QLNN về BHYT trên lĩnh vực chỉ khám chữa bệnh, nhằm đảm bảo chỉ trả các chế độ BHYT cho người thụ hưởng theo đúng quy định của pháp luật và đảm bảo được mục tiêu ASXH.
QLNN về chỉ KCB BHYT được thống nhất từ cơ quan Nhà nước cấp trung ương đến cấp địa phương. QLNN về chỉ KCB BHYT cần tuân thủ đúng 15 các nguyên tắc sau: “đúng chế độ, chính sách hiện hành, đúng người được hưởng; bảo đảm đầy đủ chỉ phí KCB BHYT cho người bệnh; thủ tục chỉ trả đơn giản, thuận tiện”. Quản lý chỉ KCB BHYT là các hoạt động có tổ chức, theo quy định của pháp luật để thực hiện công tác chỉ thanh toán KCB BHYT. được thực hiện bằng hệ thống pháp luật của nhà nước và bằng các biện pháp hành chính, tổ chức, kinh tế của các cơ quan chức năng nhằm đạt được mục tiêu chỉ đúng đối tượng, chỉ đủ số lượng.
Co quan quản lý nhà nước về BHYT: - Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế.