Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về bảo vệ rừng. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước vẻ bảo vệ rừng trên địa bàn huyện la H'Drai, tỉnh Kon Tum. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn huyện la H'Drai, tỉnh Kon Tum. 12 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN CUA QUAN LY NHÀ NƯỚC VÈ BẢO VỆ RỪNG 1.
KHAI QUAT VE QUAN LY BAO VE RUNG 1. Một số khái niệm. Khái niệm rừng Luật Lâm nghiệp (Luật số 16/2017/QH14) được Quốc hội khóa 14, kỳ họp thứ4 thông qua ngày 15/11/2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019, tại mục 3, Điều 2 đã đưa ra khái niệm vẻ rừng: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0.3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên” [3, tr. Theo Tansley (1935): Rừng là một hệ sinh thái trong đó thành phần chủ yếu là các cây gỗ và mối quan hệ của nó với hoàn cảnh sống.
Theo Nghị định thư Kyoto (1997), *Rừng là một khu vực có diện tích tối thiểu từ 0,05 - 1,0 ha với độ che phủ của tán cây khoảng từ 10 - 30% (hoặc tương đương với trữ lượng nhất định) và chiều cao cây 02 - 05 mét trong điêu kiện thành thục. Các khu rừng tự nhiên và tất cả rừng trong chưa đạt độ tàn che từ 10 - 30% hoặc chiều cao cây chưa đạt 02 - 05 mét chưa được coi là rừng do những diện tích này thông thường chỉ hình thành một phần của vùng rừng tạm thời chưa có trữ lượng do có sự can thiệp của con người, như khai thác hoặc do các nguyên nhân tự nhiên, nhưng những diện tích này được kỳ vọng là sẽ chuyển hóa thành rừng ” [L7, tr.30] Như vậy, định nghĩa về rừng được xác định theo 03 tiêu chí: diện tích; chiều cao cây; độ tàn che. Các diện tích có cây cối được coi là rừng nếu đạt 13 được cả ba tiêu chí sau: Một là, độ tàn che của cây rừng (các loài cây thân gỗ, cây họ cau, tre nứa) là thành phần chính của rừng tự nhiên hoặc cây rừng trồng lớn hơn hoặc bằng 0,1. Độ tàn che là mức độ che kín của tán cây rừng theo phương thắng đứng trên một đơn vị diện tích rừng được biểu thị bằng tỷ lệ phần mười.
Hai là, diện tích liền vùng lớn hơn hoặc bằng 0,3 ha. Diện tích liền vùng được xác định là diện tích vùng đất có rừng (bao gồm tự nhiên, rừng tròng) tập trung, liên tục, khoảng cách giữa các dải rừng không lớn hơn 30 m và tổng diện tích các khoảng trống không quá 30% diện tích. Ba là, chiều cao trung bình của cây rừng được xác định theo hệ thực vật trên các kiện lập địa, cụ t ~ Cây rừng có chiều cao trung bình từ 5.0 m trở lên đối với rừng tự nhiên và rừng trồng trên đồi, núi đất và đồng bằng; rừng tròng trên đất ngập phẻn. ~ Cây rừng có chiều cao trung bình từ 2,0 m trở lên đối với rừng tự nhiên, rừng trồng trên đất ngập nước ngọt; rừng trồng trên núi đá có đất xen kẽ.
- Cây rừng có chiều cao trung bình từ 1,5 m trở lên đi trên đất ngập phèn. - Cây rừng có chiều cao trung bình từ 1,0 m trở lên đi trên núi đá, đất cát, đất ngập mặn và các kiểu rừng ở điều kiện sinh thái đặc biệt khác; rừng trồng trên đất cát, đất ngập mặn. Khái niệm quản lý nhà nước về bảo vệ rừng ~ Quản lý nhà nước là một dạng đặc biệt của quản lý, được sử dụng các quyền lực nhà nước như lập pháp, hành pháp và tư pháp để quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Quản lý là một chức năng lao động bắt nguồn từ tính chất lao động xã là quá trình tổ chức — điều kiển con người với các hoạt động theo các yêu cầu nhất định.
Có nhiều dạng quản lý khác nhau, trong đó quản lý xã hội (như 14 QLNN, quan ly hanh chính, quản lý kinh tế,. là dạng quản lý phức tạp nhất. Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý khác nhau như: quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua nỗ lực của người khác; là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của các cộng sự cùng chung một tô chức; Hay quản lý là hoạt động thiết yếu bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm [14], [15]. Một số giáo.
trình định nghĩa Quản lý là “điễu &: , chỉ đạo một hệ thống hoặc một quá trình, căn cứ vào những quy luật hay nguyên tắc tương ứng dé cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã định trước “[1, tr. Hay cụ thé hon, quản lý “Tiến trình, hoạt động hoặc giám sát việc thực thi nhiệm vụ để đảm bảo rằng các hoạt động trong tổ chức được thực hiện theo hướng đạt được các mục tiêu đã đề ra của tổ chức — đặc biệt là nhiệm vụ tạo ra và duy trì các điều kiện để thực hiện tốt mục tiêu thông qua việc kết hợp những nỗ lực của các nhóm khác nhau trong tổ chức, cũng là một nhóm người trong 16 chức liên quan đến việc quản lý tổ chức đó” [6, tr7]- Trong hoạt động quản lý thì chủ thể quản lý là các tác nhân tạo ra các tác động và đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp từ chủ thể quản lý. Nói một cách khái quát: quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường. QUNN là dạng quản lý xã hội, thể hiện vai trò và việc thực thi quyền lực của nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhà nước để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.
Nói cách khác, QLNN không phải là sự quản lý đối với nhà nước mà là 15 sự quản lý có tính chất nhà nước, của nhà nước đối với xã hội; thực hiện bởi quyền lực của nhà nước; được ghỉ nhận, củng có bằng pháp luật va đảm bảo. thực hiện bằng sự cưỡng chế nhà nước. QLNN, do đó, có những đặc trưng cơ bản như: QLNN mang tính chất quyền lực nhà nước, có tính chất tổ chức cao và mang tính mệnh lệnh của nhà nước, QLNN mang tính tổ chức và điều chỉnh chủ yếu, QUNN mang tính tổ chức và kế hoạch, QLNN mang tính liên tục [15]. - Bao vệ rừng: Bảo vệ rừng là tổng thể các hoạt động của tô chức và cá nhân tác động vào rừng nhằm phòng, chống những tác động tiêu cực đến rừng để duy trì và phát triển hệ sinh thái rừng, sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác; bảo tồn đa dạng sinh học và giữ gìn cảnh quan môi trường sinh thái.
~ Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng: QLNN về bảo vệ rừng là một bộ phận của QLNN nên nó có những đực trưng vốn có, ngoài ra nó có chủ thể, đối tượng quản lý riêng, có thể khái quát như sau: Quản lý nhà nước về BVR là quá trình các chủ thể quản lý nhà nước xây dựng chính sách, ban hành pháp. luật và sử dụng công cụ pháp luật trong hoạt động quản lý nhằm đạt được yêu cầu, mục đích BVR nhà nước đã đặt ra [39, tr. Hay nói một cách cụ thể hơn: QLNN vẻ bảo vệ rừng là quá trình các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nước đề ra các chủ trương, chính sách, xây dựng hệ thống văn bản pháp luật và sử dụng nó để điều chỉnh các hoạt động quản lý nhằm đạt được những yêu cầu, mục đích của mình về bảo vệ rừng. Đặc điểm công tác quản lý nhà nước về bảo vệ rừng a.
Rừng là đối tượng quản lý nhà nước đặc thù Rừng là nguyên tài nguyên có khả năng tái tạo và có tính chất quyết định trong việc bảo vệ môi trường sinh thái toàn cầu; rừng bao gồm các yếu tố thực vật, vi sinh vật, đất rừng, động vật, các yếu tố này có liên kết cùng tạo 16 nên hoàn cảnh rừng đặc trưng. Rừng Việt Nam gắn bó chặt chẻ với đời sống của hàng triệu người dân sống trong rừng và gần rừng. Lấy mục đích sử dụng làm căn cứ, người ta phân loại rừng tự nhiên và rừng trồng thành: rừng đặc dụng; rừng phòng hộ; rừng sản xuất. Cách phân loại này tạo thuận lợi cho việc đầu tư nguồn lực, tổ chức bộ máy, quy định chế độ quản lý, bảo vệ, khai thác đối với từng loại rừng.
Vì vậy QLNN về BVR phải áp dụng những cơ chế, chính sách, các quy định pháp luật khác nhau phù hợp với mục đích chủ yếu với từng lợi rừng, cụ thể như sau: - Rừng đặc dụng có mục đích sử dụng để bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên và nguồn gen sinh vật rừng, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, bảo tồn các di tích lịch sử , văn hóa, tín ngưỡng, danh lam thắng cảnh, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trừ phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng: cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Gồm có các loại rừng đặc dụng: (1) Vườn quốc gia; (2) Khu dự trữ thiên nhiên; (3) Khu bảo tổn loài - sinh cảnh; (4) Khu bảo vệ cảnh quan (rừng bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; rừng tín ngưỡng; rừng bảo vệ môi trường đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao); (5) Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học; (6) Vườn thực vật quốc gia; (7) Rừng giống quốc gia.