Tổng quan nghiên cứu

Năm 2018, kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản của Việt Nam đạt 9,382 tỷ USD, chiếm trên 23% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành nông nghiệp và mang lại giá trị xuất siêu vượt mức 7 tỷ USD. Mặc dù chiếm khoảng 6% thị phần đồ gỗ toàn cầu, ngành lâm nghiệp nước ta đang đối mặt với bài toán nan giải giữa phát triển kinh tế và suy thoái tài nguyên sinh thái. Tại huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum, công tác bảo vệ gần 60.000 ha rừng tự nhiên gặp vô vàn thách thức do địa bàn trải dài trên 76 km đường biên giới giáp Campuchia và tiếp giáp các huyện Chư Păh, Ia Grai thuộc tỉnh Gia Lai. Sự xuất hiện của các lòng hồ thủy điện Sê San 4 và Sê San 3A biến nơi đây thành điểm nóng về khai thác, vận chuyển gỗ lậu và tình trạng phá rừng làm nương rẫy.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Lương Viết Tú được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong lĩnh vực lâm nghiệp, đánh giá toàn diện thực trạng công tác bảo vệ rừng tại huyện Ia H'Drai giai đoạn 2016 - 2018, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ và có tính khả thi cao. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp các luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, hướng đến mục tiêu giảm thiểu từ 15% đến 20% số vụ vi phạm lâm luật hàng năm, quản lý nghiêm ngặt 100% diện tích rừng tự nhiên và nâng cao sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế của Phan Huy Đường (2015) kết hợp khung quản trị rừng bền vững quốc tế của Cubbage (2018) và Ameyaw (2016). Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng được xác định là quá trình các cơ quan công quyền sử dụng pháp luật, quy hoạch và các công cụ điều tiết kinh tế để bảo tồn, phát triển hệ sinh thái rừng. Đề tài tập trung phân tích 4 khái niệm nền tảng:

  • Hệ sinh thái rừng: Căn cứ Điều 2 Luật Lâm nghiệp năm 2017 (Luật số 16/2017/QH14), rừng là hệ sinh thái bao gồm thực vật, động vật, vi sinh vật và đất rừng, có diện tích liền vùng từ 0,3 ha trở lên, độ tàn che của tán cây từ 0,1 trở lên và chiều cao trung bình của cây rừng từ 1,0 mét đến 5,0 mét tùy theo điều kiện lập địa.
  • Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng: Hoạt động mang tính quyền lực công của bộ máy hành chính nhằm ban hành chính sách, tổ chức thực thi pháp luật và thanh tra kiểm soát hoạt động khai thác lâm sản.
  • Phân loại 3 loại rừng: Cơ chế quản lý chuyên biệt áp dụng riêng cho rừng đặc dụng (bảo tồn gen và cảnh quan), rừng phòng hộ (đầu nguồn, biên giới, chắn gió) và rừng sản xuất (kinh doanh lâm sản).
  • Cơ chế đồng quản lý và xã hội hóa nghề rừng: Sự phối hợp giữa chính quyền với cộng đồng dân cư thôn bản nhằm chia sẻ quyền lợi và trách nhiệm bảo vệ rừng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2016 - 2018 được thu thập đồng bộ từ Hạt Kiểm lâm huyện Ia H'Drai, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thống kê và Ủy ban nhân dân huyện thông qua báo cáo thực hiện 91 đầu việc trọng tâm.

  • Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu: Đề tài tiến hành thu thập toàn bộ dữ liệu thống kê kiểm kê từ 3 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, 7 đơn vị chủ rừng và 100% hồ sơ các vụ vi phạm pháp luật lâm nghiệp phát sinh trong suốt 3 năm khảo sát. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ có chủ đích được áp dụng nhằm bao quát trọn vẹn gần 60.000 ha lâm phận mà không tạo ra sai số chọn mẫu.
  • Phương pháp phân tích dữ liệu: Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp chỉ số, so sánh tương đối và tuyệt đối trên phần mềm Excel. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm phản ánh khách quan biến động diện tích rừng, cấu trúc các hành vi vi phạm và lượng hóa chính xác hiệu quả xử lý vi phạm hành chính với hơn 857 triệu đồng tiền phạt cùng hàng trăm mét khối gỗ bị tịch thu, tạo tiền đề vững chắc cho việc kiến nghị chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Thứ nhất, công tác thể chế hóa và ban hành kế hoạch được triển khai bài bản. Ủy ban nhân dân huyện đã cụ thể hóa chỉ đạo của cấp trên thành 91 đầu việc chi tiết, phân công rõ người chỉ đạo, đơn vị chủ trì và thời hạn hoàn thành, giúp 100% các xã thực hiện nghiêm túc các văn bản quy phạm pháp luật về lâm nghiệp.
  • Thứ hai, áp lực mất rừng do phá đất làm rẫy và xâm canh diễn ra hết sức phức tạp. Tương tự thực trạng tại huyện Buôn Đôn với 279 ha rừng bị 142 hộ lấn chiếm, huyện Ia H'Drai ghi nhận nhiều điểm nóng xâm canh từ các hộ dân thuộc huyện Chư Păh và Ia Grai sang vùng giáp ranh, biến hàng trăm hecta đất lâm nghiệp thành nương rẫy trồng cây công nghiệp.
  • Thứ ba, kết quả thanh tra truy quét đã xử lý được nhiều vụ việc nhưng hành vi vi phạm vẫn tinh vi. Hoạt động khai thác, mua bán và vận chuyển lâm sản trái phép chiếm hơn 65% tổng số vụ vi phạm được phát hiện, khối lượng gỗ tịch thu qua các năm có xu hướng biến động khó lường do các đối tượng triệt để lợi dụng tuyến đường thủy lòng hồ thủy điện Sê San.
  • Thứ tư, biên chế và trang thiết bị cho lực lượng kiểm lâm còn thiếu hụt nghiêm trọng. Trung bình mỗi kiểm lâm địa bàn phải quản lý diện tích lên đến hơn 3.000 ha rừng núi hiểm trở, thiếu máy định vị chuyên dụng và công cụ tuần tra khiến công tác kiểm soát 76 km biên giới chưa thể khép kín liên tục 24/24 giờ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên xuất phát từ sinh kế khó khăn của hơn 70% đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ cùng giá trị lợi nhuận siêu ngạch từ kinh doanh gỗ lậu. So sánh với kinh nghiệm quản lý của huyện Đức Cơ (Gia Lai) khi kiểm soát 19.581 ha rừng bằng cách khoanh vùng 5 vị trí trọng điểm dễ cháy và thành lập 9 ban chỉ đạo cấp xã, Ia H'Drai vẫn còn lúng túng trong khâu phối hợp tác chiến giữa kiểm lâm, công an và bộ đội biên phòng.

Để nâng cao trực quan khoa học, các phát hiện này có thể được biểu diễn chi tiết qua Biểu đồ cột biểu thị số vụ vi phạm pháp luật lâm nghiệp qua các năm 2016 - 2018 kết hợp Biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu 3 loại rừng. Đồng thời, Bảng tổng hợp diện tích thu hồi đất và khối lượng lâm sản tịch thu sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách nhận diện chuẩn xác 3 khu vực xung yếu dọc hồ Sê San 3A và Sê San 4 để ưu tiên bố trí nguồn lực.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Hoàn thiện thể chế và quy chế phối hợp liên ngành: Ban hành quy chế phối hợp kiểm tra, truy quét liên huyện giữa Ia H'Drai với hai huyện Chư Păh và Ia Grai trước quý 4 năm 2021; thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu số quản lý 100% diện tích gần 60.000 ha rừng tự nhiên do Ủy ban nhân dân huyện chủ trì.
  • Đẩy mạnh giao rừng gắn liền với chính sách sinh kế bền vững: Hoàn thành giao đất, giao khoán tối thiểu 15.000 ha rừng sản xuất và rừng phòng hộ cho các hộ gia đình, cộng đồng dân cư trong giai đoạn 2021 - 2023; chi trả đầy đủ tiền dịch vụ môi trường rừng nhằm nâng mức thu nhập của hộ nhận khoán lên từ 3,5 đến 5 triệu đồng mỗi tháng do Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã triển khai.
  • Tăng cường tuần tra, hiện đại hóa công tác kiểm soát lâm phận: Trang bị 100% máy định vị GPS, camera giám sát tự động và thiết bị bay không người lái cho lực lượng tuần tra; duy trì 5 trạm chốt chặn cơ động tại các cửa rừng và lòng hồ thủy điện Sê San để kéo giảm trên 30% số vụ vi phạm lâm luật trong giai đoạn 2021 - 2025 do Hạt Kiểm lâm huyện chủ trì.
  • Nâng cao năng lực chuyên môn và chế độ đãi ngộ cán bộ: Tổ chức 6 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ điều tra hình sự, trinh sát và xử lý vi phạm hành chính cho hơn 50 lượt công chức kiểm lâm; bảo đảm chi trả đúng mức phụ cấp ưu đãi nghề từ 20% đến 50% theo quy định pháp luật nhằm tạo động lực công tác lâu dài, thực hiện định kỳ hàng năm từ năm 2021.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ lãnh đạo và công chức kiểm lâm địa phương: Nắm bắt quy trình phân công 91 danh mục công việc, phương án thiết lập các chốt chặn 24/24 giờ và mô hình phối hợp liên ngành trên 76 km biên giới để áp dụng trực tiếp vào kế hoạch điều hành hàng năm.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế: Tiếp cận khung lý thuyết chuẩn hóa, hệ thống dữ liệu thực chứng 3 năm (2016 - 2018) và các bài học so sánh liên tỉnh tại vùng Tây Nguyên phục vụ công tác nghiên cứu học thuật.
  • Ban quản lý rừng phòng hộ và các doanh nghiệp lâm nghiệp: Vận dụng phương thức giao khoán rừng bền vững, quy trình thực hiện phương án trồng rừng thay thế với tỷ lệ gấp 3 lần diện tích rừng tự nhiên chuyển đổi mục đích sử dụng và khai thác dịch vụ môi trường rừng.
  • Tổ chức phi chính phủ và các chuyên gia phát triển nông thôn: Khai thác bức tranh thực tế về sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số sống gần rừng để thiết kế các dự án nông lâm kết hợp, hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng và giảm thiểu áp lực phá rừng nguyên sinh.

Câu hỏi thường gặp

  • Mục tiêu trọng tâm của công tác quản lý nhà nước về bảo vệ rừng tại huyện Ia H'Drai là gì? Mục tiêu bao trùm là bảo vệ nguyên vẹn gần 60.000 ha rừng tự nhiên hiện có, quản lý chặt chẽ 100% diện tích 3 loại rừng và triệt phá các điểm nóng khai thác lâm sản dọc 76 km đường biên giới. Luận văn cung cấp luận cứ hoàn thiện cơ chế chính sách, nâng cao hiệu lực xử lý vi phạm và tạo việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số.

  • Khung khổ pháp lý nào giữ vai trò chủ đạo xuyên suốt nghiên cứu? Nghiên cứu lấy Luật Lâm nghiệp năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2019) và Nghị định số 156/2018/NĐ-CP làm căn cứ pháp lý cốt lõi. Các văn bản này quy định tiêu chuẩn diện tích rừng tối thiểu từ 0,3 ha, phân cấp thẩm quyền chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng và quy định rõ chế tài xử phạt hành chính đối với chủ rừng vi phạm.

  • Khó khăn lớn nhất trong việc tuần tra bảo vệ rừng tại địa phương là gì? Khó khăn lớn nhất đến từ địa hình hiểm trở bị chia cắt bởi lòng hồ thủy điện Sê San 3A và Sê San 4, trong khi lực lượng kiểm lâm chỉ có từ 1 đến 2 cán bộ phụ trách một xã. Lợi nhuận từ gỗ lậu rất cao cùng tình trạng xâm canh nương rẫy qua biên giới khiến công tác truy quét gặp nhiều rủi ro.

  • Luận văn đã đúc kết được những bài học kinh nghiệm gì từ các địa phương lân cận? Nghiên cứu kế thừa kinh nghiệm từ huyện Đức Cơ (Gia Lai) trong việc thành lập 9 ban chỉ đạo cấp xã và quản lý 5 vị trí trọng điểm cháy rừng; đồng thời rút ra bài học từ huyện Buôn Đôn (Đắk Lắk) khi xử lý 339 vụ vi phạm năm 2018 nhằm tránh xung đột sinh kế khi thu hồi đất lâm nghiệp bị lấn chiếm.

  • Giải pháp nào mang tính đột phá để ngăn chặn tình trạng phá rừng làm nương rẫy? Giải pháp đột phá là kết hợp giao khoán bảo vệ rừng gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng, giúp mỗi hộ gia đình nhận khoán có nguồn thu ổn định từ 3,5 đến 5 triệu đồng mỗi tháng. Khi người dân được hưởng lợi trực tiếp từ kinh tế rừng, tỷ lệ vi phạm phát rừng làm rẫy sẽ giảm hơn 80%.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận và thể chế quản lý nhà nước về bảo vệ rừng theo tinh thần Luật Lâm nghiệp năm 2017.
  • Đánh giá chân thực thực trạng quản trị gần 60.000 ha rừng tự nhiên tại huyện Ia H'Drai giai đoạn 2016 - 2018 với 91 đầu việc quản lý cụ thể.
  • Đúc kết 4 bài học thực tiễn quý giá từ mô hình quản lý rừng bền vững tại các huyện Đức Cơ và Buôn Đôn.
  • Kiến nghị 4 nhóm giải pháp chiến lược về quy hoạch đất lâm nghiệp, giao khoán sinh kế, hiện đại hóa thiết bị GPS và nâng cao đãi ngộ cán bộ.
  • Đặt ra lộ trình hành động cụ thể đến năm 2025 với mục tiêu kéo giảm trên 30% số vụ vi phạm lâm luật dọc 76 km tuyến biên giới Tây Nguyên.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp giải pháp đồng bộ kết hợp giữa mệnh lệnh hành chính và đòn bẩy kinh tế sinh kế cho người dân bản địa. Các nhà quản lý lâm nghiệp, cơ quan thực thi pháp luật và chính quyền địa phương hãy ứng dụng ngay các khuyến nghị khoa học từ công trình nghiên cứu này để giữ vững và phát triển diện tích rừng bền vững trên địa bàn huyện Ia H'Drai.