Luận văn Thạc sĩ: Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội tại tỉnh Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích quản lý kinh tế quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh quảng nam, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Tác giả

Nguyễn Vũ Tiến

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

123
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Bố cục luận văn

Tổng quan tài liệu nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI

1.1. KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI

1.1.1. Một số khái niệm

1.1.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội

1.1.3. Ý nghĩa của việc quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội

1.2. NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI

1.2.1. Ban hành và tuyên truyền phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo trợ xã hội

1.2.2. Tổ chức bộ máy nhà nước

1.2.3. Tổ chức hoạt động tài chính về bảo trợ xã hội

1.2.4. Thanh tra, kiểm tra hoạt động bảo trợ xã hội

1.2.5. Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bảo trợ xã hội

1.3. NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI

1.3.1. Nhân tố chính sách, pháp luật

1.3.2. Nhân tố kinh tế

1.3.3. Nhân tố văn hóa - xã hội

1.3.4. Nhân tố con người

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM

2.1. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TỈNH QUẢNG NAM ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI

2.1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên

2.1.2. Đặc điểm xã hội

2.1.3. Đặc điểm kinh tế

2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM

2.2.1. Ban hành và tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo trợ xã hội

2.2.2. Tổ chức bộ máy

2.2.3. Tổ chức hoạt động tài chính về bảo trợ xã hội

2.2.4. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo trợ xã hội

2.2.5. Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bảo trợ

2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG

2.3.1. Thành công và hạn chế

2.3.2. Nguyên nhân của các hạn chế

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM

3.1. CĂN CỨ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP

3.1.1. Tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

3.1.2. Các quan điểm định hướng

3.2. GIẢI PHÁP CỤ THỂ

3.2.1. Hoàn thiện văn bản và phổ biến công tác tuyên truyền phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về BTXH

3.2.2. Hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy

3.2.3. Hoàn thiện tổ chức hoạt động tài chính bảo trợ xã hội

3.2.4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện chính sách BTXH

3.2.5. Nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về bảo trợ xã hội

3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

3.3.1. Đối với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

3.3.2. Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội tại Quảng Nam

Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội (BTXH) là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực công để ban hành và tổ chức thực thi các chính sách, pháp luật nhằm phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho các thành viên yếu thế trong cộng đồng. Đây là trụ cột quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội tỉnh Quảng Nam, thể hiện tính nhân văn và vai trò của nhà nước trong việc đảm bảo công bằng, ổn định xã hội. Luận văn của Nguyễn Vũ Tiến (2020) đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, khẳng định rằng vai trò của nhà nước trong bảo trợ xã hội là không thể thay thế, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế. Quá trình này bao gồm việc xây dựng chính sách, tổ chức bộ máy, quản lý tài chính, thanh tra và giải quyết khiếu nại. Mục tiêu cuối cùng là hỗ trợ các đối tượng hưởng bảo trợ xã hội vượt qua khó khăn, hòa nhập cộng đồng và góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Nam. Hoạt động này không chỉ là phân phối lại thu nhập mà còn là một công cụ đầu tư cho nguồn nhân lực, thúc đẩy giảm nghèo bền vững tại Quảng Nam. Hiểu rõ bản chất và nội dung của quản lý nhà nước là tiền đề để đánh giá đúng thực trạng công tác bảo trợ xã hội và đề xuất các giải pháp hoàn thiện, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương.

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của phúc lợi xã hội tại địa phương

Bảo trợ xã hội, theo nghĩa hẹp, là hệ thống các chính sách của nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp các nhóm yếu thế như người già cô đơn, trẻ mồ côi, người khuyết tật. Các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đều nhấn mạnh BTXH là biện pháp công cộng để ứng phó với rủi ro thu nhập. Tại Việt Nam, BTXH được xem là lưới an toàn cuối cùng. Ý nghĩa của công tác này rất to lớn: thể hiện truyền thống "tương thân tương ái"; góp phần phân phối lại thu nhập, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo; đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho người thụ hưởng; và thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội. Một hệ thống phúc lợi xã hội hiệu quả là nền tảng cho sự ổn định chính trị và phát triển bền vững.

1.2. Nội dung cốt lõi của quản lý công về an sinh xã hội

Hoạt động quản lý công về an sinh xã hội bao gồm năm nội dung chính. Thứ nhất, ban hành và tuyên truyền chính sách, pháp luật về BTXH. Thứ hai, tổ chức bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương, với vai trò nòng cốt của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Quảng Nam. Thứ ba, tổ chức hoạt động tài chính, bao gồm huy động nguồn lực cho công tác bảo trợ xã hội từ ngân sách nhà nước cho an sinh xã hội và xã hội hóa, đồng thời tổ chức chi trả kịp thời, đúng đối tượng. Thứ tư, tăng cường thanh tra, kiểm tra để đảm bảo minh bạch và hiệu quả. Cuối cùng, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm. Các nội dung này tạo thành một chu trình quản lý khép kín, đảm bảo chính sách đi vào cuộc sống.

II. Phân tích thực trạng công tác bảo trợ xã hội tại Quảng Nam

Giai đoạn 2015-2019, công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần ổn định đời sống người dân. Tuy nhiên, luận văn cũng chỉ ra nhiều thách thức và hạn chế cần khắc phục. Thực trạng công tác bảo trợ xã hội cho thấy, dù đã có nhiều nỗ lực, đời sống của một bộ phận đối tượng vẫn còn khó khăn, mức trợ cấp còn thấp so với nhu cầu sống tối thiểu. Việc tiếp cận các chính sách xã hội Quảng Nam của một số nhóm đối tượng còn hạn chế. Công tác quản lý, theo dõi đối tượng chưa chặt chẽ, dẫn đến nguy cơ bỏ sót hoặc sai sót. Các nhân tố ảnh hưởng đến thực trạng này bao gồm: hệ thống chính sách còn chồng chéo, nguồn lực kinh tế của tỉnh còn hạn hẹp, và năng lực của một bộ phận cán bộ làm công tác xã hội còn yếu. Đây là những rào cản chính đối với việc nâng cao hiệu quả chính sách bảo trợ xã hội và cần có những giải pháp đồng bộ để tháo gỡ.

2.1. Đánh giá việc thực thi chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên

Việc triển khai trợ giúp xã hội thường xuyên tại Quảng Nam chủ yếu dựa trên Nghị định 136/2013/NĐ-CP (nay là Nghị định 20/2021/NĐ-CP tại Quảng Nam). Tỉnh đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn và tổ chức chi trả trợ cấp hàng tháng cho hàng chục ngàn đối tượng. Tuy nhiên, báo cáo cho thấy số lượng đối tượng tăng qua các năm, tạo áp lực lớn lên ngân sách. Mức trợ cấp dù đã được điều chỉnh nhưng vẫn chưa theo kịp tốc độ tăng giá. Bên cạnh đó, quy trình xét duyệt hồ sơ ở một số địa phương còn phức tạp, gây khó khăn cho người dân. Công tác tuyên truyền chính sách chưa thực sự sâu rộng, dẫn đến việc một số người thuộc diện nhưng không biết để làm thủ tục hưởng chế độ.

2.2. Những hạn chế và nguyên nhân trong quản lý bảo trợ xã hội

Những hạn chế chính được xác định bao gồm: mức trợ cấp thấp, chưa đảm bảo mức sống tối thiểu; một số đối tượng chưa tiếp cận được chính sách; công tác quản lý đối tượng chưa thường xuyên, thiếu chặt chẽ. Nguyên nhân của những hạn chế này rất đa dạng. Về chính sách, một số quy định chưa thực sự phù hợp với đặc thù địa phương. Về kinh tế, nguồn lực cho công tác bảo trợ xã hội chủ yếu vẫn phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, trong khi khả năng huy động từ xã hội hóa công tác trợ giúp xã hội còn hạn chế. Về con người, đội ngũ cán bộ cấp xã còn kiêm nhiệm nhiều việc, chưa được đào tạo chuyên sâu về công tác xã hội, ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định và quản lý.

III. Giải pháp hoàn thiện chính sách và bộ máy quản lý nhà nước

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội, việc hoàn thiện hệ thống chính sách và kiện toàn bộ máy tổ chức là yêu cầu cấp thiết. Các giải pháp cần tập trung vào việc rà soát, điều chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp hơn với thực tiễn tỉnh Quảng Nam. Cần xây dựng một khung pháp lý đồng bộ, dễ tiếp cận, tránh chồng chéo giữa các chính sách xã hội Quảng Nam. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến từng người dân, đặc biệt là các đối tượng hưởng bảo trợ xã hội. Về tổ chức, cần củng cố và nâng cao năng lực cho bộ máy quản lý các cấp, từ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Quảng Nam đến cán bộ cấp xã. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu đối tượng sẽ giúp hệ thống vận hành minh bạch và hiệu quả hơn. Đây là nền tảng cho cải cách hành chính trong lĩnh vực xã hội.

3.1. Cải cách chính sách pháp luật và tăng cường tuyên truyền

Giải pháp hàng đầu là rà soát và đề xuất sửa đổi các văn bản chính sách hiện hành. Cần xây dựng mức chuẩn trợ cấp xã hội phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh, đảm bảo mức sống tối thiểu cho người dân. Các quy trình, thủ tục hành chính cần được đơn giản hóa để người dân dễ dàng tiếp cận. Bên cạnh đó, phải đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, sử dụng cả kênh truyền thống (loa, đài) và hiện đại (mạng xã hội, ứng dụng di động) để thông tin về chính sách xã hội Quảng Nam đến được với mọi người, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

3.2. Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực cán bộ

Cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cấp trong hệ thống quản lý BTXH, tránh chồng chéo. Tăng cường biên chế và có chế độ đãi ngộ hợp lý cho cán bộ làm công tác xã hội ở cấp xã, phường. Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng định kỳ về kỹ năng công tác xã hội, kiến thức pháp luật và ứng dụng công nghệ thông tin. Xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về đối tượng hưởng BTXH trên toàn tỉnh để việc quản lý, theo dõi và lập kế hoạch được chính xác, khoa học và kịp thời. Đây là bước đi quan trọng để chuyên nghiệp hóa công tác quản lý công về an sinh xã hội.

IV. Phương pháp tối ưu nguồn lực tài chính và giám sát hiệu quả

Tài chính là yếu tố quyết định sự thành công của các chính sách bảo trợ xã hội. Do đó, việc tối ưu hóa nguồn lực cho công tác bảo trợ xã hội và tăng cường giám sát là giải pháp mang tính đột phá. Quảng Nam cần xây dựng kế hoạch tài chính trung và dài hạn, đảm bảo ngân sách nhà nước cho an sinh xã hội được phân bổ ổn định và tăng dần theo tốc độ phát triển kinh tế. Bên cạnh nguồn lực từ nhà nước, cần đẩy mạnh xã hội hóa công tác trợ giúp xã hội bằng cách tạo cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân tham gia đóng góp. Song song với việc huy động nguồn lực, công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát phải được thực hiện thường xuyên. Việc công khai, minh bạch trong thu chi, quản lý tài chính sẽ củng cố niềm tin của xã hội và nâng cao hiệu quả chính sách bảo trợ xã hội.

4.1. Đa dạng hóa nguồn tài chính cho công tác bảo trợ xã hội

Ngoài việc ưu tiên bố trí ngân sách địa phương, tỉnh cần tích cực vận động các nguồn tài trợ từ các chương trình mục tiêu quốc gia, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng quốc tế. Cần có cơ chế khuyến khích rõ ràng (ví dụ: ưu đãi thuế) cho các doanh nghiệp có đóng góp tích cực vào các quỹ an sinh, phúc lợi xã hội. Đồng thời, phát triển các mô hình BTXH dựa vào cộng đồng, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể, tôn giáo trong việc chăm sóc các đối tượng yếu thế, qua đó giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

4.2. Tăng cường thanh tra giám sát và xử lý vi phạm

Cần xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất việc thực hiện chính sách BTXH tại các địa phương. Nội dung kiểm tra cần tập trung vào quy trình xét duyệt đối tượng, việc chi trả trợ cấp và quản lý tài chính. Thành lập các kênh tiếp nhận phản ánh, khiếu nại của người dân (đường dây nóng, hòm thư góp ý) và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, trục lợi chính sách. Sự giám sát không chỉ đến từ cơ quan nhà nước mà còn cần sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức xã hội và chính người dân, tạo ra một cơ chế giám sát đa chiều, toàn diện.

V. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng vào giảm nghèo bền vững

Luận văn thạc sĩ về quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội tại Quảng Nam không chỉ là một công trình nghiên cứu lý thuyết mà còn mang lại giá trị ứng dụng thực tiễn cao. Kết quả phân tích và các giải pháp đề xuất trực tiếp góp phần vào mục tiêu giảm nghèo bền vững tại Quảng Nam. Bằng cách hoàn thiện chính sách, tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả quản lý, hệ thống BTXH sẽ trở thành một công cụ đắc lực hỗ trợ các hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng yếu thế khác. Việc đảm bảo một mức sống tối thiểu và tạo cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản sẽ giúp người dân có thêm điều kiện để vươn lên thoát nghèo. Các giải pháp này khi được áp dụng sẽ tạo ra tác động kép: vừa giải quyết vấn đề an sinh trước mắt, vừa tạo nền tảng cho sự phát triển lâu dài, góp phần thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Nam.

5.1. Tác động của chính sách đến đời sống đối tượng hưởng BTXH

Việc nâng mức trợ cấp, đơn giản hóa thủ tục và đảm bảo chi trả kịp thời sẽ cải thiện trực tiếp đời sống vật chất và tinh thần của các đối tượng hưởng bảo trợ xã hội. Họ sẽ có điều kiện tốt hơn để trang trải chi phí sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe và cho con em đi học. Hơn nữa, sự quan tâm của nhà nước và cộng đồng giúp họ cảm thấy không bị bỏ lại phía sau, tăng cường sự tự tin và ý chí vươn lên, từng bước hòa nhập vào đời sống xã hội chung.

5.2. Mối liên hệ giữa an sinh xã hội và mục tiêu giảm nghèo

An sinh xã hội tỉnh Quảng Nam và giảm nghèo có mối quan hệ hữu cơ. BTXH giúp ngăn chặn người dân rơi vào cảnh nghèo đói cùng cực khi gặp các cú sốc (thiên tai, bệnh tật, mất việc làm). Nó cũng cung cấp nguồn lực ban đầu để các hộ nghèo có thể đầu tư vào sản xuất, học nghề. Một hệ thống BTXH vững mạnh sẽ giúp quá trình giảm nghèo bền vững tại Quảng Nam trở nên thực chất hơn, không chỉ giảm tỷ lệ hộ nghèo về mặt số liệu mà còn nâng cao chất lượng sống và khả năng chống chịu của người dân trước các rủi ro.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 'MỌT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ BẢO. KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI 1. Một số khái niệm a. Bao trợ xã hội Bảo trợ xã hội ở Việt Nam thường được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

BTXH theo nghĩa rộng có khái niệm và vai trò giống như ASXH; còn BTXH theo nghĩa hẹp (truyền thống) là hệ thống cơ chế, chính sách và các giải pháp của nhà nước và cộng đồng xã hội nhằm trợ giúp và bảo vệ đối tượng yếu thé, thiệt thòi trong xã hội (còn gọi là đối tượng xã hội) ồn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng như: người già, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt, người bị nhiễm HIV/AIDS, những nạn nhân của thiên tai và những người có hoàn cảnh đặc biệt khá [22, tr.23] BTXH theo nghĩa hẹp không có đầy đủ chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro cho tất cả các thành viên trong xã hội. Độ bao phủ của nó chỉ giới hạn trong phạm vi các đối tượng BTXH chứ không phải hướng tới các thành viên trong xã hội và hoạt động của nó cũng mang tính bị động đối phó với rủi ro hơn là chủ động phòng ngừa và hạn chế rủi ro [22, tr. Khái niệm BTXH mới được nhắc đến gần đây ở các nước đang phát triển, các tô chức phát triển quốc tế đều sử dụng định nghĩa riêng về bảo trợ xã hội như Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Viện nghiên cứu Phát triển Hải ngoại (ODI). Hầu hết các định nghĩa này đều có tính hai mặt, đề cập bản chất của sự BTXH và hình thức của phản ứng chính sách.

~ Ngân hàng Thể giới (WB) đã định nghĩa: Bảo trợ xã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng ứng phó HH với và kiềm chế được nguy cơ có tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tôn thương và những bắp bênh thu nhập. BTXH nhấn mạnh kiểm soát rủi ro, vừa là mạng lưới an toàn vừa là nền tảng đề phát triển nguồn nhân lực [7]. - Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa: Bảo trợ xã hội là việc cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế nhà nước hoặc tập thể, cộng đồng nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp. Nhân mạnh chiều cạnh bảo hiểm và mở rộng cơ hội việc làm và tạo việc làm cho những đối tượng có nhu cầu và trong khu vực kinh tế phi chính thức [7].

~ Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) định nghĩa: Bảo trợ xã hội đề cập đến một hệ chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bắt lợi của những rủi ro đối với hộ gia đình và cá nhân. Nhắn mạnh tính dễ bị tổn thương nếu người dân không có bảo trợ xã hội, và tác hại của việc thiếu bảo trợ xã hội đối với người khác [7]. - Viện nghiên cứu Phát triển Hải ngoại (ODI) định nghĩa: Bảo trợ xã hội là những hành động công ích nhằm giảm thiểu tính tôn thương, nguy cơ gây sốc và sự bần cùng hóa, là những điều không thẻ chấp nhận được vẻ mặt xã hội. Nhắn mạnh tính dễ bị tổn thương va ban cùng hóa, do vậy bảo trợ xã hội hướng vào người nghèo hoặc những người khó khăn nhất thuộc tầng lớp không ai mong muốn trong xã hội[7].

Nhưng cho dù theo định nghĩa nào, các tô chức quốc tế đều thống nhất trong cách tiếp cận coi bảo trợ xã hội như một biện pháp kiềm chế nguy cơ bị tôn thương, duy trì được thu nhập, sinh kế, tránh rơi vào đói nghèo. Mục đích của BTXH là đảm bảo thu nhập và điều kiện sống cơ bản đối với các trường hợp bắt hạnh, rủi ro, nghèo đói và không có khả năng duy trì cuộc sống. Đối với Việt Nam, BTXH như một lưới an toàn nhằm bảo đảm sự an toàn về đời sống của người dân khi họ bị rơi vào hoàn cảnh không may và tự bản thân 12 không khắc phục được. Các hoạt động cứu trợ xã hội, xóa đói giảm nghèo.

nhằm hạn chế nguy cơ dễ bị tổn thương ở những đối tượng yếu thế, mắt nguồn thu nhập và sinh kế và không có khả năng tiếp cận được các dịch vụ cơ bản của xã hội [7] Theo Bộ Lao động - Thương binh và xã hội ( 1999), Bảo trợ xã hội là thực hiện các chính sách, chế độ, các hoạt động của chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hòa nhập với cuộc sống chung của cộng đồng góp phần bảo đảm ồn định và công bằng xã hội [2, tr 85]. Hiện nay, thuật ngữ BTXH được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau như là ASXH, bảo tồn xã hội, đảm bảo xã hội.nhưng nhìn chung chúng đều muốn góp phần bảo vệ xã hội nhờ các biện pháp công cộng khác nhau đẻ giúp giải quyết các thiếu hụt về kinh tế mà họ có thể gặp phải trong cuộc sống, chẳng hạn như mắt hoặc giảm các nguồn thu nhập vì nhiều lý do khác nhau. Qua một số cơ sở lý luận nêu trên có thể khái quát lại, BTXH là sự giúp do dưới các hình thức khác nhau của nhà nước và cộng đồng cho các thành viên yếu thế trong xã hội ( bị rủi ro, khó khăn, bắt hạnh,. không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản than và gia đình) nhằm giúp họ đảm bảo cuộc sống tối thiểu và hòa nhập vào cộng đông.

Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội Để có thể nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước về BTXH, trước tiên ta cần làm rõ khái niệm về quản lý nhà nước. Hiện nay có nhiều tác giả đa đưa các những quan điểm khác nhau về quản lý nhà nước như: Theo Nguyễn Hữu Hải và cộng sự (2010) thì: Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp 13 luật để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, đảm bảo sự ồn định và phát triển của toàn xã hội [12, tr 03]. Theo Nguyễn Ngọc Tiến (2003) thì: Quản lý nhà nước là sự tác động. của quyền lực Nhà nước đến các chủ thẻ trong xã hội: Công dân và tổ chức, thể nhân hay pháp nhân, công pháp hay tư pháp (công quyền), mang đặc trưng cường bức kết hợp với thuyết phục, giáo dục [20, tr 81].

Theo Uông Chu Lưu (2010) thi: Quan lý nhà nước là một phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước, quản lý nhà nước ra đời với tính chất là loại hoạt động quản lý xã hội. Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng, được thực hiện bởi tắt cả các cơ quan nhà nước. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức; được thực hiện trên cơ sở và dé thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước). Quản lý nhà nước cũng là sản phẩm của việc phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý [15] Như vậy,quản lý nhà nước là một hoạt động của quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.

Trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước được coi là một hoạt động chức năng của nhà nước và có thễ được coi là một hoạt động chức năng đặc biệt Từ những nghiên cứu nêu trên về BTXH và khái niệm về quản lý nhà nước, ta có thể hiểu: Quản lý nhà nước về BTXH là quá trình tác động có tổ chức và bằng các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước, thể hiện quyền lực của Nhà nước nhằm hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đông do bị mắt hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân khác nhau. Đặc điểm của quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội Trước hết, hoạt động quản lý nhà nước về BTXH đây là hoạt động và mang tính chất điều hành vừa mang tính chấp hành. Trong thực tế thực hiện các văn bản hiến pháp, luật pháp, nghị định và nghị quyết của các cơ quan lập pháp và các cơ quan dân cử đều thẻ hiện tính chấp hành. Tính điều hành được thể hiện ở chỗ để đảm bảo rằng các văn bản pháp lý của cơ quan chức năng có thấm quyền được thực hiện trong thực tế, các chủ thể quản lý cơ quan hành chính nhà nước phải tiến hành các hoạt động tổ chức và hướng dẫn trực tiếp với các đối tượng thuộc quyền quản lý.

Để đảm bảo tính thống nhất của hai yếu tố này, cần có nhiều yêu cầu. Đặc biệt, bộ phận quản lý hành chính nhà nước trước tiên phải đảm bảo tuân thủ, chấp hành các văn bản của cơ quan dân cử đại diện cho mong muốn, ý chí nguyện vọng của mọi người, từ đó thực hiện công việc quản lý điều hành. Tắt cả các hoạt động điều hành và chấp hành phải xuất phát từ mục đích phục vụ cho lợi ích nhân dân, đảm bảo đời sống xã hội của mọi người từ mọi khía cạnh và góp phần phát huy hiệu quả của công tác BTXH. Thứ hai, hoạt động quản lý nhà nước về BTXH đòi hỏi phải các tính chủ động và sáng tạo.

Điều này được phản ánh trong thực tế là các cơ quan quản lý hành chính đề xuất các biện pháp phù hợp căn cứ theo tình hình và đặc điểm của từng đối tượng quản lý. Trong việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hành chính để điều chinhe hoạt động quản lý nhà nước về BTXH cần thể hiện tính chủ động và sáng tạo trong quá trình thực hiện. Tính chủ động sáng tạo còn thể hiện rỏ nét trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính đề điều chinh các hoạt động. quản lý Nhà nước về BTXH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ