CHƯƠNG 1 'MỌT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ BẢO. KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI 1. Một số khái niệm a. Bao trợ xã hội Bảo trợ xã hội ở Việt Nam thường được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
BTXH theo nghĩa rộng có khái niệm và vai trò giống như ASXH; còn BTXH theo nghĩa hẹp (truyền thống) là hệ thống cơ chế, chính sách và các giải pháp của nhà nước và cộng đồng xã hội nhằm trợ giúp và bảo vệ đối tượng yếu thé, thiệt thòi trong xã hội (còn gọi là đối tượng xã hội) ồn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng như: người già, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt, người bị nhiễm HIV/AIDS, những nạn nhân của thiên tai và những người có hoàn cảnh đặc biệt khá [22, tr.23] BTXH theo nghĩa hẹp không có đầy đủ chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro cho tất cả các thành viên trong xã hội. Độ bao phủ của nó chỉ giới hạn trong phạm vi các đối tượng BTXH chứ không phải hướng tới các thành viên trong xã hội và hoạt động của nó cũng mang tính bị động đối phó với rủi ro hơn là chủ động phòng ngừa và hạn chế rủi ro [22, tr. Khái niệm BTXH mới được nhắc đến gần đây ở các nước đang phát triển, các tô chức phát triển quốc tế đều sử dụng định nghĩa riêng về bảo trợ xã hội như Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Viện nghiên cứu Phát triển Hải ngoại (ODI). Hầu hết các định nghĩa này đều có tính hai mặt, đề cập bản chất của sự BTXH và hình thức của phản ứng chính sách.
~ Ngân hàng Thể giới (WB) đã định nghĩa: Bảo trợ xã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng ứng phó HH với và kiềm chế được nguy cơ có tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tôn thương và những bắp bênh thu nhập. BTXH nhấn mạnh kiểm soát rủi ro, vừa là mạng lưới an toàn vừa là nền tảng đề phát triển nguồn nhân lực [7]. - Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa: Bảo trợ xã hội là việc cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế nhà nước hoặc tập thể, cộng đồng nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp. Nhân mạnh chiều cạnh bảo hiểm và mở rộng cơ hội việc làm và tạo việc làm cho những đối tượng có nhu cầu và trong khu vực kinh tế phi chính thức [7].
~ Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) định nghĩa: Bảo trợ xã hội đề cập đến một hệ chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bắt lợi của những rủi ro đối với hộ gia đình và cá nhân. Nhắn mạnh tính dễ bị tổn thương nếu người dân không có bảo trợ xã hội, và tác hại của việc thiếu bảo trợ xã hội đối với người khác [7]. - Viện nghiên cứu Phát triển Hải ngoại (ODI) định nghĩa: Bảo trợ xã hội là những hành động công ích nhằm giảm thiểu tính tôn thương, nguy cơ gây sốc và sự bần cùng hóa, là những điều không thẻ chấp nhận được vẻ mặt xã hội. Nhắn mạnh tính dễ bị tổn thương va ban cùng hóa, do vậy bảo trợ xã hội hướng vào người nghèo hoặc những người khó khăn nhất thuộc tầng lớp không ai mong muốn trong xã hội[7].
Nhưng cho dù theo định nghĩa nào, các tô chức quốc tế đều thống nhất trong cách tiếp cận coi bảo trợ xã hội như một biện pháp kiềm chế nguy cơ bị tôn thương, duy trì được thu nhập, sinh kế, tránh rơi vào đói nghèo. Mục đích của BTXH là đảm bảo thu nhập và điều kiện sống cơ bản đối với các trường hợp bắt hạnh, rủi ro, nghèo đói và không có khả năng duy trì cuộc sống. Đối với Việt Nam, BTXH như một lưới an toàn nhằm bảo đảm sự an toàn về đời sống của người dân khi họ bị rơi vào hoàn cảnh không may và tự bản thân 12 không khắc phục được. Các hoạt động cứu trợ xã hội, xóa đói giảm nghèo.
nhằm hạn chế nguy cơ dễ bị tổn thương ở những đối tượng yếu thế, mắt nguồn thu nhập và sinh kế và không có khả năng tiếp cận được các dịch vụ cơ bản của xã hội [7] Theo Bộ Lao động - Thương binh và xã hội ( 1999), Bảo trợ xã hội là thực hiện các chính sách, chế độ, các hoạt động của chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hòa nhập với cuộc sống chung của cộng đồng góp phần bảo đảm ồn định và công bằng xã hội [2, tr 85]. Hiện nay, thuật ngữ BTXH được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau như là ASXH, bảo tồn xã hội, đảm bảo xã hội.nhưng nhìn chung chúng đều muốn góp phần bảo vệ xã hội nhờ các biện pháp công cộng khác nhau đẻ giúp giải quyết các thiếu hụt về kinh tế mà họ có thể gặp phải trong cuộc sống, chẳng hạn như mắt hoặc giảm các nguồn thu nhập vì nhiều lý do khác nhau. Qua một số cơ sở lý luận nêu trên có thể khái quát lại, BTXH là sự giúp do dưới các hình thức khác nhau của nhà nước và cộng đồng cho các thành viên yếu thế trong xã hội ( bị rủi ro, khó khăn, bắt hạnh,. không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản than và gia đình) nhằm giúp họ đảm bảo cuộc sống tối thiểu và hòa nhập vào cộng đông.
Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội Để có thể nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước về BTXH, trước tiên ta cần làm rõ khái niệm về quản lý nhà nước. Hiện nay có nhiều tác giả đa đưa các những quan điểm khác nhau về quản lý nhà nước như: Theo Nguyễn Hữu Hải và cộng sự (2010) thì: Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp 13 luật để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, đảm bảo sự ồn định và phát triển của toàn xã hội [12, tr 03]. Theo Nguyễn Ngọc Tiến (2003) thì: Quản lý nhà nước là sự tác động. của quyền lực Nhà nước đến các chủ thẻ trong xã hội: Công dân và tổ chức, thể nhân hay pháp nhân, công pháp hay tư pháp (công quyền), mang đặc trưng cường bức kết hợp với thuyết phục, giáo dục [20, tr 81].
Theo Uông Chu Lưu (2010) thi: Quan lý nhà nước là một phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước, quản lý nhà nước ra đời với tính chất là loại hoạt động quản lý xã hội. Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng, được thực hiện bởi tắt cả các cơ quan nhà nước. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức; được thực hiện trên cơ sở và dé thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước). Quản lý nhà nước cũng là sản phẩm của việc phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý [15] Như vậy,quản lý nhà nước là một hoạt động của quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.
Trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước được coi là một hoạt động chức năng của nhà nước và có thễ được coi là một hoạt động chức năng đặc biệt Từ những nghiên cứu nêu trên về BTXH và khái niệm về quản lý nhà nước, ta có thể hiểu: Quản lý nhà nước về BTXH là quá trình tác động có tổ chức và bằng các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước, thể hiện quyền lực của Nhà nước nhằm hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đông do bị mắt hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân khác nhau. Đặc điểm của quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội Trước hết, hoạt động quản lý nhà nước về BTXH đây là hoạt động và mang tính chất điều hành vừa mang tính chấp hành. Trong thực tế thực hiện các văn bản hiến pháp, luật pháp, nghị định và nghị quyết của các cơ quan lập pháp và các cơ quan dân cử đều thẻ hiện tính chấp hành. Tính điều hành được thể hiện ở chỗ để đảm bảo rằng các văn bản pháp lý của cơ quan chức năng có thấm quyền được thực hiện trong thực tế, các chủ thể quản lý cơ quan hành chính nhà nước phải tiến hành các hoạt động tổ chức và hướng dẫn trực tiếp với các đối tượng thuộc quyền quản lý.
Để đảm bảo tính thống nhất của hai yếu tố này, cần có nhiều yêu cầu. Đặc biệt, bộ phận quản lý hành chính nhà nước trước tiên phải đảm bảo tuân thủ, chấp hành các văn bản của cơ quan dân cử đại diện cho mong muốn, ý chí nguyện vọng của mọi người, từ đó thực hiện công việc quản lý điều hành. Tắt cả các hoạt động điều hành và chấp hành phải xuất phát từ mục đích phục vụ cho lợi ích nhân dân, đảm bảo đời sống xã hội của mọi người từ mọi khía cạnh và góp phần phát huy hiệu quả của công tác BTXH. Thứ hai, hoạt động quản lý nhà nước về BTXH đòi hỏi phải các tính chủ động và sáng tạo.
Điều này được phản ánh trong thực tế là các cơ quan quản lý hành chính đề xuất các biện pháp phù hợp căn cứ theo tình hình và đặc điểm của từng đối tượng quản lý. Trong việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hành chính để điều chinhe hoạt động quản lý nhà nước về BTXH cần thể hiện tính chủ động và sáng tạo trong quá trình thực hiện. Tính chủ động sáng tạo còn thể hiện rỏ nét trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính đề điều chinh các hoạt động. quản lý Nhà nước về BTXH.