CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐÓI VỚI RỪNG SẢN XUẤT 1. KHÁI QUÁT VỀ RỪNG SẢN XUẤT VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐÓI VỚI RỪNG SẢN XUẤT 1. Một số khái niệm: * Rừng sản xuất Rừng sản xuất là một loại rừng. Vì vay, để hiểu được khái niệm rừng.
sản xuất, trước tiên cần tìm hiểu về khái niệm rừng. Theo tác giả Morozov (1930), “rừng là tổng thể các loại cây gỗ, có mối quan hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển” [8]. “Theo định nghĩa của FAO, “rừng là những diện tích đất lớn hơn 0,5 ha, có các cây gỗ bao phủ ít nhất 10% diện tích, mà trước đây không phải là đất nông nghiệp hoặc đất đô thị” [5]. Theo cẩm nang Lâm nghiệp Việt Nam năm 2015, định nghĩa rừng *là mt quan xa sinh vat, trong đó có cây rừng gồm: gỗ hoặc tre nứa chiếm ưu thế.
Quần xã sinh vật phải có một diện tích đủ lớn và có mật độ cây nhất định để giữa quần xã sinh vật với môi trường, giữa các thành phần của quần xã sinh vật có mối quan hệ để hình thành hoàn cảnh rừng khác với hoàn cảnh bên ngoài” [1]. Theo Luật Lâm nghiệp năm 2017, “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm: quần thể thực vật rừng, các loại động vật, các loại vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên” [16]. Có nhiều cách phân loại rừng. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào mục đích sử dụng, rừng được phân thành: rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.
Trong đó, rừng sản xuất (hay còn gọi là rừng kinh tế) là rừng được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, các lâm sản ngoài gỗ và kết hợp chức năng phòng hộ, chống biến đổi khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường [1]. Rừng sản xuất gồm rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng sản xuất là rừng trồng. - Rừng sản xuất là rừng tự nhiên gồm có: "Rừng tự nhiên và rừng được phục hồi bằng biện pháp khoanh nuôi, tái sinh tự nhiên. Căn cứ vào trữ lượng, chất lượng bình quân trên một hecta rừng tự nhiên, rừng được phân loại gồm: Rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo, rừng nghèo kiệt và rừng chưa đạt trữ lượng”[17].
- Rừng sản xuất là rừng trồng gồm có: “Rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp, rừng trồng bằng nguồn vốn chủ rừng đầu tư (vốn doanh nghiệp, vốn vay, vốn liên doanh, liên kết không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước) hoặc có hỗ trợ của nhà nước và các nguồn vốn hợp pháp khác” [17]. * Quản lý nhà nước về rừng sản xuất “Thuật ngữ quản lý thường được hiểu theo nhiều cách, nhiều nghĩa khác nhau tùy theo góc độ khoa học cũng như cách tiếp cận của nhà nghiên cứu. Quản lý là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ khác nhau và nó ngày càng phát triển sâu rộng trong tất cả hoạt động của đời sống xã hội [12].
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, quản lý mang ý nghĩa: “quản” là giữ gìn, trông coi theo những yêu cầu nhất định; “lý” là điều khiển và tổ chức các hoạt động theo yêu cầu nhất định [12]. Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau gồm: “quản” và “lý”. Quá trình “quản” gồm sự 10 giữ gìn, chăm sóc và duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”: quá trình “lý” gồm những việc sắp xếp, sửa sang và đổi mới đưa hệ thống vào thế “phát triển". Nhu vậy, “quản lý là sự tác động của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu quản lý” [9].
Việc tác động theo phương thức nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu khác nhau. “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội” [7]. Đây là một quá trình đa dạng và phức tạp. Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước đề cập đến chức năng của cả bộ máy nhà nước, gồm các hoạt động lập hiến, lập pháp, hoạt động hành pháp và hoạt động tư pháp.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành của cơ quan quản lý nhà nước. Hoạt động này chủ yếu được giao cho hệ thống cơ quan hành chính tổ chức thực hiện, đó là các chủ thể quản lý. *QLNN là sự quản lý có tính chất nhà nước, của nhà nước đối với toàn xã hội chứ không phải là sự quản lý đối với nhà nước” [4].QLNN được thực hiện bởi các quyền lực của nhà nước. Như vậy, quản lý nhà nước mang tính chất quyền lực của nhà nước, có tính chất tổ chức cao, mang tính mệnh lệnh của nhà nước.
QLNN mang tính tổ chức và điều chỉnh chủ yếu, mang tính tổ chức, kế hoạch và tính liên tục. Quản lý nhà nước đối với rừng sản xuất trên địa bàn một huyện là tổng. hợp tắt cả các hoạt động về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tô chức thực hiện các quy định pháp luật của các cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã có chức. năng theo phân cấp được quy định trong Luật Đất đai, Luật Lâm nghiệp và những quy định khác có liên quan đối với rừng sản xuất và quá trình giao dịch và sử dụng rừng sản xuất trong địa giới hành chính của huyện [2].
Đặc điểm rừng sản xuất Theo Hoàng Văn Tuấn (2015), rừng sản xuất có một số đặc điểm cơ bản như sau [13]: 11 Rừng sản xuất phụ thuộc lớn vào điều kiện sinh thái, điều kiện tự nhiên: Không phải ở đâu cũng có thể trồng rừng sản xuất mà chỉ những vùng có diện tích đất trồng, đồi núi trọc có điều kiện về đất đai, khí hậu, địa hình, thô nhưỡng phù hợp mới có khả năng phát triển rừng sản xuất. Rừng sản xuất phát triển nhằm khai thác tốt tiềm năng về dat dai, nang cao hiệu quả, tính năng sử dụng đất, góp phần tạo giải quyết nhu cầu việc làm, tăng thêm thu nhập cho người lao động. Rừng sản xuất phát triển từ đó nâng cao độ che phủ, bảo vệ môi trường. sinh thái và phát triển một cách bền vững.
Rừng sản xuất góp phần làm tăng khả năng nguồn sinh thủy và tăng khả năng phòng hộ đầu nguồn cho các hồ đập, điều hòa dòng chảy, chống xói mòn, chống rửa trôi đất, cải thiện và điều hòa khí hậu, tạo môi trường thuận lợi cho các loài động vật rừng sinh sống và phát triển một cách bền vững; Việc trồng và phát triển rừng sản xuất giúp tăng. giá trị dịch vụ bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, phục vụ đời sống và thúc đầy phát triển bền vững [18]. Vai trò quản lý nhà nước đối với rừng sản xuất Chủ thẻ chịu sự quản lý đối với rừng sản xuất rất đa dạng, chủ yếu bao. gồm: các hộ gia đình, cá nhân; cộng đồng dân cư; các tô chức kinh tế như: công ty lâm nghiệp, lâm trường; các ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.
do vậy, nhà nước cần phải tăng cường sự quản lý đối với lĩnh vực này. Trên phương diện quốc gia, đề tập trung đây mạnh phát triển kinh tế, khai thác tài nguyên rừng nếu không có cơ chế bảo vệ và phát triển rừng một cách hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng, làm mắt cân bằng sinh thái, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội mà trực tiếp là ảnh hưởng đến sự sống của con người. Chính vì vậy mà Nhà nước có vai trd rat quan trong trong việc quản lý đối với rừng sản xuất. 12 Nha nước với tư cách là chủ thể đặc biệt quản lý đối với rừng sản xuất bằng việc xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách quản lý thống nhất từ Trung ương đến địa phương theo từng giai đoạn cụ thê.
Trên cơ sở đó, các địa phương, các bộ, ngành có liên quan có trách nhiệm cụ thể hóa bằng việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch quản lý rừng sản xuất và có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ đem lại kết quả tốt nhất. Hoạt động quản lý của nhà nước đối với rừng sản xuất là tất yếu, thường xuyên, liên tục và không thể thiếu. với các hoạt động bảo vệ rừng, nhà nước ban hành các cơ chế chính sách về khai thác nguồn tài nguyên rừng một cách hợp lý nhằm phục vụ nền kinh tế nhu cầu cuộc sống, văn hóa, xã hội của đất nước. Quản lý nhà nước đối với rừng sản xuất là nhằm thực hiện chức năng quản lý của nhà nước, thiết lập và thực thi những khuôn khổ thể chế cùng với những quy định có tính chất pháp quy để duy trì, bảo tồn và phát triển rừng sản xuất.
Vì thế, việc quản lý, sử dụng, bảo vệ và phát triển rừng sản xuất phải tuân theo quy hoạch, kế hoạch mang tính chiến lược, lâu dài đã được nhà nước phê duyệt. UBND các cấp, các Bộ, ngành có liên quan trong quá trình quản lý phải tuân theo những yêu cầu nhất định. Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với rừng sản xuất QLNN đối với rừng nói chung và rừng sản xuất nói riêng là một bộ phận không tách rời của công tác quản lý hành chính nhà nước. Do đó, phải tuân thủ các nguyên tắc chung trong quản lý hành chính nhà nước như: nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước; nguyên tắc nhân dân tham gia vào những hoạt động quản lý hành chính nhà nước; nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩ {10}.
Đối với rừng sản xuất, quản lý nhà nước cần phải thực hiện đúng theo một số nguyên tắc đặc thù như sau: 13 - Bảo đảm sự quản lý, điều hành tập trung thống nhất của nhà nước: Rừng sản xuất có vai trò rất quan trọng với cuộc sống của con người và đối với nền kinh tế - xã hội, do đó nhà nước phải thống nhất quản lý, điều hành trong lĩnh vực rừng sản xuất là hết sức cần thiết, để đảm bảo thực hiện việc duy trì các mục tiêu chung của toàn xã hội. Quyền điều hành quản lý thống nhất của nhà nước được thực hiện theo. luật pháp và được thẻ hiện trên các mặt như: quyền giao đất, cho thuê rừng, giao rừng đối với các tổ chức hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, quyền định giá.