Luận văn ThS: Quản lý nhà nước về khai thác thủy sản tại TP. Đồng Hới, Quảng Bình

Luận văn thạc sĩ phân tích quản lý nhà nước trong khai thác thủy sản tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
96
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh quản lý nhà nước về khai thác thủy sản Đồng Hới

Thành phố Đồng Hới, với lợi thế đường bờ biển dài 12km và các làng nghề truyền thống, giữ một vị trí chiến lược trong kinh tế biển Đồng Hới và toàn tỉnh Quảng Bình. Hoạt động khai thác thủy sản không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn là sinh kế ngư dân Đồng Hới qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác thủy sản là cực kỳ quan trọng. Công tác này bao gồm việc hoạch định chính sách, tổ chức thực thi, kiểm tra và giám sát nhằm đảm bảo hoạt động khai thác diễn ra hiệu quả, hợp pháp và hài hòa với việc bảo vệ tài nguyên. Theo luận văn của Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2019), quản lý nhà nước trong lĩnh vực này là sự tác động có tổ chức, được điều chỉnh bằng quyền lực pháp lý, thông qua hệ thống công cụ như pháp luật, chính sách, kế hoạch. Mục tiêu cuối cùng là duy trì và phát triển ngành khai thác, nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế, đồng thời bảo vệ chủ quyền biển đảo. Hoạt động này chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các yếu tố tự nhiên như thời tiết, dòng hải lưu và sự phân bố của nguồn lợi thủy sản ven bờ. Bên cạnh đó, các yếu tố kinh tế - xã hội như trình độ dân trí, khoa học công nghệ, và năng lực của chính quyền địa phương cũng tác động trực tiếp đến hiệu quả quản lý. Sự phát triển của ngành cũng đặt ra yêu cầu công tác quản lý phải liên tục đổi mới, thích ứng với bối cảnh hội nhập quốc tế và các quy định mới, điển hình là các cam kết chống khai thác thủy sản bất hợp pháp (IUU).

1.1. Vai trò của quản lý nhà nước trong ngành thủy sản địa phương

Công tác quản lý nhà nước ngành thủy sản tại Đồng Hới thể hiện qua bốn vai trò chính. Thứ nhất là vai trò định hướng, thông qua các quy hoạch và chính sách phát triển thủy sản Quảng Bình, nhà nước vạch ra lộ trình phát triển, khuyến khích đánh bắt xa bờ và xây dựng các mô hình liên kết sản xuất. Thứ hai là vai trò điều tiết, sử dụng các công cụ pháp luật như Luật Thủy sản 2017 để điều chỉnh hoạt động khai thác, đảm bảo tính bền vững và tuân thủ quy định quốc tế. Thứ ba là vai trò hỗ trợ, triển khai các chính sách ưu đãi về vốn, tín dụng (ví dụ: Nghị định 67), chuyển giao công nghệ, và xây dựng cơ sở hạ tầng nghề cá Đồng Hới. Cuối cùng là vai trò kiểm tra, giám sát, thông qua các lực lượng như Chi cục Thủy sản Quảng Bình và Bộ đội Biên phòng để đảm bảo các hoạt động tuân thủ đúng quy hoạch và pháp luật, góp phần vào việc tái tạo nguồn lợi hải sản.

1.2. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý

Hiệu quả quản lý hoạt động khai thác thủy sản bị chi phối bởi nhiều nhân tố. Về điều kiện tự nhiên, Đồng Hới có ngư trường thuận lợi nhưng cũng thường xuyên đối mặt với thiên tai, bão lũ, gây rủi ro cho hoạt động trên biển. Về kinh tế - xã hội, sự phát triển chung của thành phố tạo điều kiện đầu tư vào đội tàu công suất lớn, nhưng cũng làm gia tăng áp lực lên môi trường. Trình độ nhận thức của ngư dân về pháp luật về thủy sản và các phương pháp khai thác hải sản bền vững còn hạn chế, gây khó khăn cho việc thực thi chính sách. Năng lực của bộ máy quản lý, từ cấp tỉnh đến địa phương, cũng là yếu tố quyết định. Sự phối hợp giữa các ban ngành và khả năng ứng dụng công nghệ trong quản lý tàu cá sẽ quyết định tính hiệu lực của các biện pháp quản lý.

II. Top 5 thách thức quản lý khai thác thủy sản tại Đồng Hới

Mặc dù có nhiều nỗ lực, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn thành phố Đồng Hới vẫn đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Theo báo cáo giai đoạn 2014-2018, sự cố môi trường biển năm 2016 cùng với việc gia tăng nhanh chóng số lượng tàu thuyền (trên 589 tàu) đã gây áp lực khổng lồ lên hệ sinh thái. Nguồn lợi thủy sản ven bờ suy giảm rõ rệt, sản lượng không đạt kế hoạch đề ra. Ô nhiễm môi trường từ chất thải sinh hoạt và nhiên liệu tàu cá ngày càng trầm trọng. Các hoạt động khai thác mang tính hủy diệt như giã cào, xung điện vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo vệ môi trường biển. Một thách thức lớn khác đến từ việc thực thi chính sách. Nghiên cứu chỉ ra rằng các chính sách hỗ trợ của nhà nước, như Nghị định 67 về tín dụng đóng tàu, chưa thực sự đồng bộ và còn nhiều vướng mắc khiến ngư dân khó tiếp cận. Dịch vụ hậu cần nghề cá chưa đáp ứng kịp nhu cầu, làm giảm hiệu quả các chuyến đi biển dài ngày. Tình trạng khai thác thủy sản bất hợp pháp (IUU) vẫn diễn ra, không chỉ làm cạn kiệt tài nguyên mà còn ảnh hưởng đến uy tín và thị trường xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Những vấn đề này đòi hỏi một sự thay đổi toàn diện trong tư duy và hành động của cả cơ quan quản lý và cộng đồng ngư dân.

2.1. Thực trạng suy giảm tài nguyên và ô nhiễm môi trường biển

Sự gia tăng không kiểm soát của đội tàu khai thác ven bờ là nguyên nhân chính dẫn đến cạn kiệt nguồn lợi thủy sản ven bờ. Các phương thức đánh bắt tận diệt không chỉ làm giảm sản lượng mà còn phá hủy hệ sinh thái rạn san hô và bãi đẻ của các loài hải sản. Bên cạnh đó, hàng nghìn tấn chất thải chưa qua xử lý từ hoạt động của tàu thuyền và sinh hoạt ven biển đã trực tiếp đổ ra sông, biển. Vấn đề ô nhiễm này không chỉ đe dọa đa dạng sinh học mà còn ảnh hưởng đến chất lượng thủy sản, tác động tiêu cực đến sức khỏe người tiêu dùng và chuỗi giá trị thủy sản.

2.2. Những bất cập trong việc triển khai chính sách hỗ trợ ngư dân

Mặc dù nhà nước đã ban hành nhiều chính sách phát triển thủy sản Quảng Bình, việc triển khai tại Đồng Hới còn nhiều hạn chế. Chính sách tín dụng theo Nghị định 67 dù có ý nghĩa lớn nhưng thủ tục phức tạp, yêu cầu tài sản thế chấp cao khiến nhiều hộ ngư dân không đủ điều kiện vay vốn để đóng tàu lớn, hiện đại. Việc đánh giá tác động chính sách cho thấy hiệu quả chưa như kỳ vọng. Các mô hình tổ hợp tác, tổ đoàn kết được thành lập nhưng hoạt động còn hình thức, thiếu cơ chế hỗ trợ cụ thể và bền vững, chưa phát huy được sức mạnh tập thể trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

2.3. Vấn đề nan giải về khai thác thủy sản bất hợp pháp IUU

Tình trạng tàu cá Đồng Hới vi phạm vùng biển nước ngoài và các quy định về khai thác thủy sản bất hợp pháp (IUU) vẫn còn diễn ra. Nguyên nhân xuất phát từ nhận thức pháp luật của một bộ phận ngư dân còn hạn chế, kết hợp với áp lực từ việc nguồn lợi ven bờ cạn kiệt. Công tác tuần tra, kiểm soát trên biển còn mỏng, chưa đủ sức răn đe. Việc chưa lắp đặt đầy đủ thiết bị giám sát hành trình trên tàu cá gây khó khăn cho công tác quản lý tàu cá và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, ảnh hưởng đến nỗ lực chung của cả nước trong việc gỡ “thẻ vàng” của Ủy ban Châu Âu.

III. Hướng dẫn hoàn thiện chính sách và mô hình khai thác thủy sản

Để nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế và hướng tới phát triển kinh tế thủy sản bền vững, việc hoàn thiện cơ chế chính sách và các mô hình tổ chức sản xuất là giải pháp cốt lõi. Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác thủy sản cần tập trung vào việc rà soát, điều chỉnh các chính sách hiện có để phù hợp hơn với thực tiễn. Cần đơn giản hóa thủ tục hành chính, đặc biệt là trong lĩnh vực tín dụng, để ngư dân dễ dàng tiếp cận nguồn vốn ưu đãi. Đồng thời, các chính sách hỗ trợ cần được thiết kế có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên cho các hoạt động khai thác hải sản bền vững, ứng dụng công nghệ cao trong bảo quản sau thu hoạch và chuyển đổi cơ cấu nghề cá từ ven bờ sang xa bờ. Việc xây dựng và nhân rộng các mô hình tổ chức sản xuất trong ngành thủy sản hiệu quả là yếu tố then chốt. Cần có cơ chế khuyến khích cụ thể để các tổ, đội hợp tác, tổ đoàn kết hoạt động thực chất, không chỉ hỗ trợ nhau trên biển mà còn liên kết trong việc tiếp cận thị trường, nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị thủy sản. Vai trò của chính quyền địa phương và các hội, hiệp hội nghề cá phải được đề cao trong việc kết nối, hỗ trợ và định hướng cho các mô hình này phát triển.

3.1. Cải cách quy trình triển khai chính sách hỗ trợ thủy sản

Cần thiết lập một cơ chế phối hợp đồng bộ giữa ngân hàng, Chi cục Thủy sản Quảng Bình và chính quyền xã, phường để thẩm định và giải ngân vốn vay nhanh chóng, đúng đối tượng. Các chính sách hỗ trợ nhiên liệu, bảo hiểm cần được chi trả kịp thời, minh bạch. Bên cạnh hỗ trợ tài chính, cần tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo cho ngư dân về kỹ năng vận hành tàu lớn, sử dụng thiết bị hàng hải hiện đại và các phương pháp khai thác thân thiện với môi trường, góp phần tái tạo nguồn lợi hải sản.

3.2. Phát triển mô hình tổ hợp tác và dịch vụ hậu cần nghề cá

Nhà nước cần có chính sách ưu đãi đặc thù cho các tổ, đội khai thác xa bờ hoạt động hiệu quả, ví dụ như ưu tiên trong việc cấp phép, cung cấp thông tin ngư trường. Song song đó, cần khuyến khích đầu tư phát triển đội tàu dịch vụ hậu cần hiện đại. Các tàu này không chỉ cung cấp nhiên liệu, vật tư mà còn thực hiện thu mua, sơ chế và bảo quản hải sản ngay trên biển, giúp giảm tổn thất sau thu hoạch và kéo dài thời gian bám biển cho đội tàu khai thác, nâng cao hiệu quả kinh tế cho sinh kế ngư dân Đồng Hới.

IV. Bí quyết tăng cường quản lý tàu cá và tuyên truyền pháp luật

Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác thủy sản đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp hành chính và giáo dục. Một trong những giải pháp trọng tâm là siết chặt công tác quản lý tàu cá. Việc cấp phép hoạt động phải được thực hiện nghiêm ngặt, dựa trên hạn ngạch khai thác được tính toán khoa học để tránh tình trạng khai thác quá mức. Theo Luật Thủy sản 2017, việc cấp phép phải gắn liền với các điều kiện về an toàn kỹ thuật, trang thiết bị thông tin liên lạc và đặc biệt là thiết bị giám sát hành trình đối với tàu cá từ 15 mét trở lên. Đây là công cụ hữu hiệu để giám sát hoạt động, ngăn chặn hành vi xâm phạm vùng biển nước ngoài và chống khai thác thủy sản bất hợp pháp (IUU). Bên cạnh biện pháp quản lý, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thủy sản cần được đẩy mạnh và đổi mới. Thay vì các buổi họp khô khan, cần đa dạng hóa hình thức như tổ chức các buổi đối thoại trực tiếp tại cảng cá, phát tờ rơi, sử dụng các phương tiện truyền thông địa phương. Nội dung tuyên truyền cần ngắn gọn, dễ hiểu, tập trung vào các quy định về vùng biển được phép khai thác, các nghề cấm, và lợi ích của việc khai thác hải sản bền vững. Nâng cao nhận thức chính là nền tảng để ngư dân tự giác tuân thủ pháp luật, góp phần xây dựng một ngành thủy sản có trách nhiệm.

4.1. Hiện đại hóa công tác cấp phép và giám sát tàu cá

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý là xu thế tất yếu. Cần xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tàu cá, tích hợp thông tin từ đăng ký, đăng kiểm, cấp phép đến dữ liệu giám sát hành trình. Điều này giúp các cơ quan chức năng như Chi cục Thủy sản Quảng Bình và Bộ đội Biên phòng có thể theo dõi, truy xuất thông tin tàu cá một cách nhanh chóng, chính xác. Quy trình cấp phép cần được công khai, minh bạch, giảm thiểu các thủ tục không cần thiết để tạo thuận lợi cho ngư dân.

4.2. Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra xử lý vi phạm

Tăng cường tần suất các đợt tuần tra, kiểm tra trên biển và tại cảng cá. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng: Kiểm ngư, Biên phòng, Cảnh sát biển. Các hành vi vi phạm, đặc biệt là sử dụng ngư cụ cấm, khai thác sai vùng, và không ghi nhật ký khai thác, phải được xử lý nghiêm minh theo quy định để tạo tính răn đe. Số liệu từ năm 2014-2018 cho thấy số vụ vi phạm được phát hiện và xử lý đã tăng lên, cho thấy sự nỗ lực của các cơ quan chức năng, tuy nhiên cần tiếp tục duy trì và đẩy mạnh hơn nữa.

V. Đánh giá hiệu quả quản lý kinh tế ngành thủy sản Đồng Hới

Việc đánh giá tác động chính sáchhiệu quả quản lý kinh tế trong lĩnh vực khai thác thủy sản tại Đồng Hới giai đoạn 2014-2018 cho thấy những kết quả đa chiều. Về mặt tích cực, quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác thủy sản đã có những đóng góp quan trọng. Số lượng tàu cá công suất lớn, hoạt động xa bờ tăng lên đáng kể, góp phần thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển Đồng Hới và bảo vệ chủ quyền. Sản lượng khai thác xa bờ có xu hướng tăng, mang lại thu nhập cao hơn cho ngư dân. Các mô hình tổ, đội sản xuất trên biển bước đầu hình thành, thể hiện sự thay đổi trong tư duy sản xuất. Công tác tuyên truyền pháp luật được chú trọng hơn, giúp một bộ phận ngư dân nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, công tác quản lý vẫn còn nhiều hạn chế. Hiệu quả kinh tế tổng thể chưa cao do tổn thất sau thu hoạch còn lớn, chuỗi giá trị thủy sản chưa được tổ chức tốt. Sự suy giảm nguồn lợi thủy sản ven bờ là một minh chứng rõ ràng cho thấy hoạt động quản lý chưa thực sự giải quyết được gốc rễ của vấn đề khai thác quá mức. Việc triển khai các chính sách hỗ trợ còn chậm và chưa đồng bộ. Tình trạng vi phạm pháp luật vẫn còn phổ biến, cho thấy các biện pháp kiểm tra, giám sát cần phải quyết liệt và hiệu quả hơn.

5.1. Phân tích các thành tựu nổi bật trong giai đoạn 2014 2018

Dữ liệu từ luận văn của Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2019) cho thấy, nhờ các chính sách khuyến khích, số lượng tàu khai thác xa bờ (công suất trên 90CV) trên địa bàn Đồng Hới đã tăng từ 386 chiếc năm 2014 lên 429 chiếc năm 2018. Sản lượng khai thác xa bờ cũng tăng tương ứng. Việc hình thành các chi hội nghề cá và tổ hợp tác (đến năm 2018 có 2 chi hội và 43 tổ hợp tác) đã tăng cường sự đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa các ngư dân. Công tác kiểm tra, kiểm soát cũng được tăng cường, với hàng trăm lượt kiểm tra được thực hiện mỗi năm, xử lý nhiều vụ vi phạm, góp phần lập lại trật tự trên biển.

5.2. Nhận diện những hạn chế và nguyên nhân còn tồn tại

Hạn chế lớn nhất là công tác quản lý vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển của hoạt động khai thác. Việc quy hoạch phát triển đội tàu chưa thực sự gắn với trữ lượng nguồn lợi. Năng lực của cán bộ quản lý cấp cơ sở còn hạn chế. Sự phối hợp liên ngành đôi khi còn thiếu chặt chẽ. Nguyên nhân của những hạn chế này một phần do nguồn lực đầu tư cho công tác quản lý còn thiếu, bao gồm cả kinh phí và trang thiết bị. Mặt khác, nhận thức của một bộ phận ngư dân về khai thác hải sản bền vững còn thấp, thói quen sản xuất nhỏ lẻ, manh mún vẫn còn tồn tại.

VI. Hướng đi mới cho khai thác thủy sản bền vững ở Đồng Hới

Để ngành thủy sản Đồng Hới phát triển theo hướng bền vững, quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác thủy sản cần có một tầm nhìn dài hạn và các giải pháp mang tính đột phá. Mục tiêu đến năm 2025 và xa hơn là xây dựng một ngành khai thác có trách nhiệm, hiệu quả kinh tế cao và hài hòa với môi trường. Trọng tâm là phải thực hiện thành công việc chuyển đổi cơ cấu nghề cá, giảm dần số lượng tàu khai thác ven bờ, và hỗ trợ mạnh mẽ cho ngư dân chuyển sang các ngành nghề khác hoặc đầu tư vào đội tàu xa bờ hiện đại. Công tác bảo vệ môi trường biểntái tạo nguồn lợi hải sản phải được xem là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Cần thiết lập các khu bảo tồn biển, quy định các mùa cấm đánh bắt, và nghiêm cấm triệt để các ngư cụ mang tính hủy diệt. Đồng thời, cần nâng cao chuỗi giá trị thủy sản bằng cách đầu tư vào công nghệ chế biến, bảo quản, xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường tiêu thụ ổn định cho sản phẩm. Vai trò của chính quyền địa phương, các viện nghiên cứu và doanh nghiệp phải được kết nối chặt chẽ để tạo ra một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện cho sinh kế ngư dân Đồng Hới, đảm bảo họ vừa làm giàu từ biển, vừa là những người bảo vệ tài nguyên biển hiệu quả nhất.

6.1. Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế thủy sản bền vững

Chiến lược này cần dựa trên ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường. Về kinh tế, cần tập trung vào việc nâng cao giá trị gia tăng, thay vì chỉ tăng sản lượng. Về xã hội, cần đảm bảo an sinh, cải thiện điều kiện làm việc và thu nhập cho ngư dân. Về môi trường, phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ nguồn lợi và hệ sinh thái biển. Cần có lộ trình cụ thể cho việc giảm cường lực khai thác, đồng thời phát triển các mô hình kinh tế thay thế như du lịch sinh thái biển, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao.

6.2. Kiến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý

Đối với Nhà nước, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về thủy sản và các chính sách vĩ mô, đặc biệt là các quy định liên quan đến chống khai thác thủy sản bất hợp pháp (IUU). Đối với tỉnh Quảng Bình, cần tăng cường ngân sách cho Chi cục Thủy sản Quảng Bình để đầu tư vào trang thiết bị giám sát và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ. Đối với thành phố Đồng Hới, cần chủ động xây dựng các đề án, kế hoạch cụ thể để triển khai hiệu quả các chính sách của trung ương và của tỉnh, đồng thời tăng cường đối thoại, lắng nghe ý kiến từ cộng đồng ngư dân để các quyết sách đi vào cuộc sống.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn thành phố đồng hới tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LY NHA NUOC DOI VOI HOAT DONG KHAI THAC THUY SAN 1. KHAI QUAT VE HOAT DONG KTTS VA QUAN LY NHA NUGC DOL VOI HOAT DONG KTTS 1. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động KTTS a. Khái niệm KTTS ~ Khai thác thủy sản (đánh bắt thủy sản) là hoạt động liên quan đến việc khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển và các vùng nước lợ [13].

Hoạt động KTTS là các tác động của con người thông qua các công cụ hd trợ và các phương pháp nhằm khai thác các tài nguyên sinh vật. chủ yếu là cơ thể sống như tôm, cá, các loại nhuyễn thể, thân giáp, rong biển, nhằm đáp ứng. nhu cầu của con người về các sản phẩm hàng hóa hải sản. ~ Khai thác thủy sản xa bở là việc khai thác các nguồn lợi thủy sản ở vùng biên giới hạn bởi tuyến lộng và ranh giới ngoài của vùng đặc quyền kinh.

tế (từ 24 hải lý) và được trang bị bởi tàu thuyền có công suất từ 90 CV trở lên. Đặc điễm của hoạt động khai thác thủy sản ~ _KTTTS là ngành chịu ảnh hưởng at lon tir did kiện tự nhiên. Đây là hoạt động diễn ra trên sông, trên biển (bao gồm: Vùng biển ven bờ, được giới hạn bởi mép nước biển tại bờ biển và tuyến bờ; vùng lộng là vùng biển được. giới hạn bởi tuyến bờ và tuyến lộng; và vùng ngoài khơi là vùng biển được.

giới hạn bởi tuyến lộng và ranh giới ngoài của vùng đặc quyền kinh tế của biển Việt Nam) [17]. Chính vì vậy, hoạt động KTTS thường xuyên chịu tác động của điều kiện tự nhiên khắc nghiệt (khí hậu, địa lý, sinh thái). khai thác của ngành là cơ thể sống tự nhiên nên trữ lượng, sự phân bố khó. đoán biết trước, khi đánh bắt xong khó bảo quản, dễ hư hỏng, dòi hỏi phương 13 tiện sản xuất vừa phải đảm nhiệm chức năng khai thác vừa là nơi bao quan, al n.

Đối tượng khai thác là cơ thể sống, nên hoạt động này mang tính chất mùa vụ, di chuyển theo đặc tinh sinh sống và theo các dòng hải lưu. nên việc phát hiện để đánh bắt đòi hỏi ngư dân phải có kinh nghiệm, am hiểu về nghề, Bên cạnh đó, do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, bám biển dài ngày. đồi ngư dân phải có sức khỏe, bền bỉ, dẻo dai, chủ yếu là ngư dân nam giới. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng là một trong những điều kiện quan trọng, đòi hỏi ngư dân có sự đầu tư rất lớn về trang thiết bị như máy tầm.

ngư, rada, dụng cụ sơ chế. Khái niệm qt lý nhà nước đối với hoạt động KTTS - Khái niệm quản lý: Theo giáo tình kinh nông nghiệp (2004) Nhà xuất bản thống kê, quản lý. sự tác động có mục đích của chủ yếu quản lý lên đối tượng quản lý trong quá trình hoạt động nhằm đạt đến mục tiêu nhất định. - Khái niệm quản lý nhà nước: Theo tác giá Đỗ Hoàn Toàn, trong giáo trình “Quản lý nhà nước vẻ kinh tế: QLNN là sự tác động có tổ chức và bằng.

pháp quyền của Nhà nước lên kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả. nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đã đặt ra, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế. [24] Hay “Quan lý nhà nước là một quá trình, trong đó các cơ quan của hệ thống bộ máy quyền lực của một quốc gia cấp Trung ương đến cấp cơ sở (ở Việt Nam là cấp xã, phường) thực hiện các tác động vào đối tượng a: He thống các tô chức kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các đoàn thể và các hộ gia đình trong xã hội bằng các công cụ hành chính (các Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định) và các biện pháp phi hành chính (sử dụng các chính xách khuyến khích kinh tế, các chương trình hỗ try phát triển. ) nhằm đạt được tới mục tiêu phát triển được định sẵn thể hiện qua các chủ trương, quy 14 hoạch, kế hoạch phát triển về kinh tế, xã hội và môi trường).” (Vũ Đình “Thắng và cộng sự, 2005, trang 225) ~ Khái niệm QLNN đối với hoạt động KTTS: QLNN đối với hoạt động.

KTTS là sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước. thông qua hệ thống các \g cụ quản lý bao gồm pháp luật, chính sách, kế hoạch của Nhà nước đối với hoạt động KTTS của tổ chức, cá nhân để duy trì và phát triển ngày càng cao các hoạt động KTTS trong nước và tại các vùng biển quốc tế nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội đặt ra. Vai trò cũa QLNN đối với hoạt động KTTS 4a. Vai trò định hướng Quản lý nhà nước thông qua các quy hoạch và chính sách phát triển thủy sản nói chung và khai thác thủy sản của cả nước và từng địa phương “Trong quy hoạch và chính sách đều định hướng cho các hoạt động khai thác thủy sản.

Ở Việt Nam chính sách phát triển thủy sản đã xác định theo đồ thay đổi tập trung tổ chức lại hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá; xây dựng và phát triển các mô hình liên kết, liên doanh, gắn sản xuất, bảo quản đến chế biến và tiêu thụ; đây mạnh khai thác xa bo. Theo đó hoạt động khai thác thủy sản ở nước ta sẽ được định hướng. thay đổi không chỉ trong khai thác mà còn cả trong chế biến sâu bảo quản sản. phẩm và tổ chức kênh tiêu thụ.

Vai trò điều tiết Điều tiết là một chức năng của quản lý nhà nước về kinh tế. Với hoạt động khai thác thủy sản trong điều kiện hiện nay nhà nước đang tập trung vào khai thác bền vững gắn với bảo vệ môi trường và tuân thủ phát luật. Luật “Thủy sản 2018 đã có hiệu lực từ ngày 1/1/2019 nhằm điều tiết hoạt động khai thác thủy sản không chỉ bảo đảm cho nguồn lợi thủy sản có thể tái tạo và phát triển và bảo đảm tuân thủ luật pháp quốc tế. Qua đó bỏ được thể vàng của.

15 Liên minh châu Âu về nguồn gốc thủy sản tạo đẫu ra cho KTTS. 'Với hành lang pháp lý này cùng với hoạt động của các chơ quan chức. năng sẽ điều tiết các hoạt động của các chủ thể trong KTTS. Vai trò hỗ trợ.

Nha nước không chỉ định hướng hay kiểm soát mà còn hỗ trợ cho các hoạt động KTTS. Hỗ try KTTS là các hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước thông. qua các chính sách và công cụ kinh tế và phi kinh tế nhằm thúc đẩy KTTS phát triển. Các chính sách ưu đãi chẳng hạn hỗ trợ ngư dân kinh phí đóng tàu.

công suất lớn để khai thác xa bờ và các tàu dịch vụ cho KTTS. Hỗ trợ các doanh nghiệp chế thủy sản nhằm tạo đầu ra cho khai thác thủy sản. Các cơ quan nhà nước thông qua hệ thống khuyến ngư đẻ chuyển giao công nghệ và kỹ thuật trong KTTS. Các hoạt động hộ trợ này thường đi cùng và găn liền với định hướng phát triển ngành thủy sản của cả nước và địa phương.

4, Vai trò kiểm tra, giám sát Đây là một trong các chức năng của quản lý nhà nước. Việc thực hiện chức năng định hướng, kiểm soát hay hỗ trợ cũng gắn liền với kiểm tra giám. Kiểm tra giám sát là hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước nhằm. xem xét, theo dõi và thu thập những thông tin phục vụ cho quản lý KTTS.

Hoạt động này đi liền với sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước và người dân cùng với một cơ chế nhất định. Kiểm tra giám sát bảo đảm cho các hoạt động KTTS theo đúng quy. hoạch, chính sách và định hướng phát triển của hoạt động này. Quan trọng nhất là hoạt động QL.NN này bảo đảm cho KTTS phát triển bền ving, 1.

Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động KTTS 16 “Thực chất của quản lý kinh tế vĩ mô đối với hoạt động KTTS là quá trình thiết kế mục tiêu quản lý đối với hoạt động khai thác thủy sản và căn cứ vào đó mà sử dụng công cụ quản lý hiện hữu và phương pháp quản lý thích hợp để điều tiết các hoạt động KTTS theo mục tiêu đã định. Nhà nước quản lý hoạt động KTTS thông qua các công cụ có đặc điểm như: ~ Tính chủ thể: chủ thể sử dụng công cụ quản lý của nhà nước về 'KTTS là các cơ quan QLNN vẻ kinh tế, chứ không phải là co quan QLNN bat kỳ, và càng không phải là các chủ thể tham gia quản lý kinh tế quốc dân. ~ _ Tính mục đích: mục đích sử dụng công cụ quản lý của nhà nước về KTTTS là nhằm thực hiện mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô. ~ Tính hệ thống: công cụ QLNN về KTTS là một hệ thống bao gồm.

nhỉ chủng loại, trong đó có công cụ quản lý hữu hình và công cụ quản lý vô hình, công cụ quản lý trực tiếp và công cụ quản lý gián tiếp, công cụ quản lý trực tiếp và công cụ quản lý gián tiếp. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐÓI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI 'THÁC THỦY SẢN Điều 48, 49, 40, 50, 51 và 52 của chương IV và chương VIII Luật thủy sản 2017 [17] quy định rõ về nguyên tắc của hoạt động KTTS ven bờ và xa ba: cùng với các văn bản của chính quyền Trung ương và địa phương. Tổng ceue thủy sản quy định về chức năng, nhiệm vụ và bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản. Qua đó, QLNN đối với hoạt động KTTS bao gồm: 1.

Tổ chức triển khai thực hiện các chính sách, quy định trong. hoạt động KTTS Chính sách liên quan tới hoạt động KTTS là các biện pháp nhằm bảo. đảm cho các hoạt động KTTS theo định hướng nhất định. Chẳng hạn KTTS của nước ta phải bảo đảm hiệu quả kinh tế xã hội nhưng phải gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

1 Ở cắp tỉnh thì các chính sách này vừa gắn với các chính sách chung và cùng với các chính sách của địa phương. Cơ quan ban hành và thực thỉ chính xách này ở các địa phương là UBND tỉnh và các cơ quan tham mưu Sở NN và PTNT, sở Tài nguyên môi trường. Việc tổ chức triển khai thực hiện các chính sách, quy định trong lĩnh vực KTTS cần có sự phối hợp đồng bộ từ các cơ quan có liên quan. Công tác triển khai cẳn đảm bảo tính kịp thời, đúng đối tượng.

Trước khi tổ chức triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ