phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được cấu trúc gồm ba chương: Chương l: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với cây. được liệu và cây sâm quý. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với cây sâm Ngọc Linh ở huyện Tụ Mơ Rông, tỉnh Kon Tum. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nha nước đối với cây sâm Ngọc Linh ở huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu trong mước Lê Thể Giới, " 'Giáo trình Quản trị học” (2011) luận giải về Quản trị và nhà quản trị, Sự phát triển các tư tưởng quản trị; Môi trường tổ chức; Hoạch định và chiến lược; Ra quyết định; Tổ chức; Quản trị nguồn nhân lực; Động. cơ thúc đấy, Lãnh đạo; Truyền thông trong tổ chúc; Quản trị nhóm làm việc; Quản trị sự thay đổi; Kiểm tra. Đỗ Hoàn Toàn, Mai Văn Bưu (2005), °G Ih quản lý nhà nước về kinh tế” đã đề cập đến các quy luật và nguyên tắc, công cụ và phương pháp, mục tiêu và chức năng, thông tin và quyết định trong quản lý nhà nước về kinh tế, bộ máy và cán bộ quản lý kinh tế Nhà nước; cung cấp những.
thức lý luận, khái quát cơ bản, có tính hệ thống về vai trò Nhà nước quản lý nên kinh tế. Nội dung giáo trình cung cắp những kiến thức cơ bản, hiện đại, Việt Nam trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về kinh tế 'Vũ Đình Thắng, (2006), “Giáo trình kinh tế nông nghiệt trình bảy các nội dung: tổng quan về kinh tế nông nghiệp, đối tượng, nhiệm vụ và phương. pháp nghiên cứu môn học; quan hệ sản xuất trong nông nghiệp Việt Nam; phát triển lực lượng sản xuất của nông nghiệp dưới giác độ kinh tế học; các vấn đề về sản xuất hàng hoá và thị trường nông nghiệp, trong đó chú trọng. đến thị trường nông sản; các vấn đề quản lý nhả nước vẻ phát triển kinh tế nông nghiệp Việt Nam hiện nay, trong đó có chú ý quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở.
Phạm Kim Giao, (2008), *Quản lý nhà nước về nông thôn” trình bày các nội dung chính khái quát chung vẻ quản lý nhà nước đối với phát triển nông thôn. Nông thôn là địa bàn để người nông dân sinh sống và phát triển, là một bộ phận quan trọng cấu thành xã hội, đặc biệt là đối với các quốc gia. có sản xuất nông nghiệp là nền tảng như Việt Nam. Nông thôn Việt Nam có chức năng chính: sản xuất, cung ứng nông phẩm cho xã hội và giữ bản sắc.
văn hoá truyền thống dân tộc và đảm bảo môi trường sinh thái. Cho nên, phát triển nông thôn là một tắt yếu đặt ra trong giai đoạn hiện nay và mai sau; Qua tác phẩm này vấn đề phát triển nông nghiệp được nhìn nhận dưới sóc độ của phát triển nông thôn bởi các hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nông thôn chủ yếu liên quan đến nông nghiệp. Dang Kim Son (2008), “Nong nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam: Hôm nay và mai sau” bày thực trạng các vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay những thành tựu cũng như những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại mà tác giá đã đè xuất những định hướng và kiến nghị chính sách nhằm đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn ngày càng phát triển. Đào Kim Long (1973), chủ nhiệm đề tài nghiên cứu sâm Ngọc Linh đã nêu rõ đặc điểm hình thái, sinh thái học, quản thể, thảm thực vật, khả năng.
thích nghi, cách phát tán, khả năng tái sinh của cây nhân sâm này, kèm theo báo cáo có các tiêu bản mẫu cây ép khô, ảnh chụp và 3 kg sâm đã phơi khô. Đào Kim Long đã tự đặt danh pháp khoa học cho loài sâm Ngọc Linh là Panax articulatus KL Dao. Ha Thi Dung val. Grushvistky (1985) với danh pháp khoa học là đồng sâm Panax vietnamesis thuộc họ Araliaceae.
Năm 2004 danh pháp đây đủ và đúng nhất của Sâm Ngọc Linh được ngành thực vật học thể giới công nhận là Panax vietnamensis được xếp loại bởi Ha & Grushvistky, BotL Zhum. (Moscow& Leningrad) 70: 519 (1985) Trần Công Luận (2013), “Chỉ dẫn địa lý Ngọc Linh cho sản phẩm sâm của hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam”, phân tích hóa học, thân rễ, cũ sâm Ngọc Linh đã phân lập được 52 hoạt chất saponin, trong đó có 26 saponin thường thấy ở sâm Triều Tiên, sâm Mỹ và sâm Nhật Bản và 26 saponin chỉ có ở sâm Ngọc Linh được đặt tên vinaginsenosid từ R1 đến R25 và 20- 'Ome-GRhl. Trong lá và cong thân có 19 saponin vinaginsenosid từ LI đến L8> Trong sâm còn có 7 hợp chất polyacetylen, b sitosterol, daucosterol, 17 acid amin, 20 khoáng chất vi lượng và hàm lượng tinh dau là 0,1%. Các công trình nghiên cứu trên thé gi Bipin Chandra Joshi và Rakesh K.
Josh (2014), với công trình *Vai trò của cây được liệu trong cải thiện sinh kế 6 Uttarakhand”. Nghiên cứu này đã ghi nhận tầm quan trọng của cây thuốc ở Uittarakhand gắn liền với đời sống. của người dân nông thôn, đánh giá thị trường tiêu thụ cây thuốc ở Uttarakhand thông qua chuỗi giá trị sản phẩm cây thuốc. Đây là chuỗi giá trị còn nhiều mặt hạn chế, các mối liên kết giữa các tác nhân còn lỏng lẻo, người thu gom chỉ phối và quyết định giá cả cây dược liệu, người sản xuất và khai thác dược liệu bị thua thiệt.
Do đó, các nghiên cứu đã phân tích qua từng mắt xích trong chuỗi từ sản xuất và quản lý phân phối qua từng ngành hàng. Nghiên cứu chỉ ra mức độ hợp tác cộng đồng giữa những người sản xuất có thể cải thiện chuỗi giá trị cây thuốc hiện có. Đặc biệt, nghiên cứu đã đi sâu đánh giá mức độ nhận thức của cộng đồng và các cắp quản lý ở địa phương về việc sử dụng và trồng cây được liệu, cũng như xác định nhu cầu bảo tồn của. các loại cây được liệu, các tính năng của tập quán canh tác hiện tại và sự lựa chọn phương thức canh tác tiến bộ hơn để thay thé.
Công trình này chưa di mặt kinh tế và môi trường đối với vai trò của cây và phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Án Độ nói chung và vùng Uttarakhand nói riêng. Sher, H và cộng sự (2014) "Lợi ích kinh tế của cây dược liệu có giá trị cao với cộng đồng người Pakistan: một phân tích về thực hành hiện tại và tiềm năng”. Đề tài đánh giá thực trạng nghèo đói ở thung lũng Swat, Pakistan. Sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún.
Người nông dân nhờ vào khai thác và bán cây dược liệu để cải thiện thu nhập cho gia đình. Nguồn dược liệu được thu hoạch từ các quần thể hoang dã, nhưng người ta không đánh giá cao về các giá trị tiềm năng của các nguyên liệu này và tác động dài hạn đến thu. nhập của họ trên quần thể thực vật sản có ở địa phương. Trọng tâm của.
nghiên cứu là trên các mô hìn tập hợp các cây thuốc như một hoạt đông kinh tế trong huyện Swat và những khả năng của các sản phẩm này tại thị trường, trong nước hoặc quốc tế. Thương lái địa phương, nông dân và các đại lý đã được khảo sát về những nỗ lực của họ thu hoạch, số lượng thu hoạch, giá nhận được, và kết quả thu nhập. Thị trường sản phẩm cây được liệu ở các thành phố lớn của Pakistan đã được khảo sát cho thấy các xu hướng thị trường. 10 hiện tại, nguồn cung cắp, nhập khẩu và xuất khẩu nguyên liệu thảo dược, mô hình giá, và các yêu cầu chất lượng sản phẩm trên thị trường.
Thực tế cho thấy rằng nguồn được liệu thu hoạch từ hoang đã gần như là nguồn duy nhất của nguyên liệu cây thuốc trong nước, hầu như không trồng trọt. Thu hoạch chủ yếu được thực hiện bởi phụ nữ và trẻ em bộ lạc du mục vùng trung du, có thu nhập bổ sung thông qua các hoạt động này, với các cây được liệu sau đó đưa vào thị trường bởi những người thu gom thường nông dân địa phương “Các cá nhân có liên quan trong việc thu hoạch và thu gom được phần lớn chưa qua đào tạo về phương pháp thu hoạch và xử lý sau thu hoạch đối với các nguyên liệu thu hoạch được. Hầu hết các nguyên liêu thu hoạch được bán cho người trung gian địa phương. Sau đó, qua các trung gian phân phối phúc tạp và không đồng nhất, liên quan đến nhiều người tham gia.
Pakistan là nước. xuất khẩu dược liệu giá trị cao tạo ra hơn 10,5 triệu USD mỗi năm, với một tỷ. lệ đáng kể của việc cung cấp đến từ quận Swal, nhưng thị phần của nó đã được giảm. Lý do cho sự suy giảm được xác định là chất lượng kém của các nguyên liệu cung cấp, chuỗi cung ứng quá dài do có quá nhiều tác nhân tham.
gia, và chiến lược tiếp thị kém. Những vấn đề này có thể được giải quyết bằng. cách cải thiện từng mắt xích trong chuỗi cung ứng từ mắt xích đầu tiên đến. người tiêu dùng cuối cùng, cải thiện các mồi liên kết giữa tắt cả các mắt xích.
trong chuỗi, và phát triển các hoạt động khai thác bền vững. Nghiên cứu chưa đề cập đến các yếu tố về thẻ chế và đề cập đến yêu cầu bảo tồn và phát ién bền vững của cây dược liệu, cũng như biện pháp rút ngắn chuỗi cung ứng nhằm nâng cao giá trị gia tăng, nâng cao thu nhập cho người thu hoạch dược. liệu Kata và cộng sự (2006), với nghiên cứu "Phát triển ngành cây dược liệu ở miền Bắc Ấn độ: thách thức và cơ hội”. Đề tài đã chỉ ra các đặc tính chữa bệnh của các được liệu, có những đóng góp quan trọng trong việc hình " thành và phát triển các liệu pháp chữa bệnh truyền thống.
Những tri thức chữa. bệnh truyền thống mắt đi do sự thất thoát các tài liệu bằng văn bản và thu. nhập tương đối thấp của thầy thuốc chữa bệnh theo liệu pháp truyền thống. Tuy nhiên, trong vài năm qua, y học cổ truyền đã lấy lại được công nhận rộng rãi do một đức tin trong y học cổ truyền cho thấy các tác dụng phụ ít hơn so với thuốc tây và đáp ứng yêu cầu cần thiết của y học cho dân số ngày càng.
Thông qua việc thực hiện thường xuyên tri thức y học cỗ truyền từ các cây dược liệu sử dụng cho y học trong quá khứ và các mỗi quan tâm mới ở thời điểm hiện tại, nhu cầu tồn tại y học cổ truyền, kiến thức quý giá này của cây thuốc với mục đích phát triển các ngành cây thuốc trên khắp các tiêu bang khác nhau ở Án Độ.