Chương I: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về nông nghiệp. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. 10 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VE ÔNG NGHIỆP.
KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ NÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm, đặc điểm của nông nghiệp a. Khái niệm nông nghiệp Theo Giáo trình kinh tế nông nghiệp của Vũ Đình Thắng (2013) [13]: “Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp. Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi ”.1] Nông nghiệp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi dé tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm.
để thoả mãn các nhu cầu của mình. Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Trồng trọt là ngành sử dụng đắt đai với cây trồng làm đối tượng chính để sản xuất ra lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và thỏa mãn các nhu cầu khác, tạo cảnh quan (hoa viên, cây kiềng, sân banh, sân golf) Chăn nuôi là ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, với đối tượng sản xuất là các loại động vật nuôi.
Đây là ngành cung cấp thực phẩm nhiều chất đạm như thịt, sữa, trứng; cung cấp da, len, lông; sản phẩm phụ của chăn nuôi dùng làm phân bón; đại gia súc dùng làm sức kéo. Lâm nghiệp là các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng và bảo vệ rừng; khai thác, vận chuyển và chế biến các sản phẩm từ rừng; trồng cây, tái tạo rừng, 11 duy trì tác dụng phòng hộ của rừng. Thủy sản bao gồm đánh bắt và nuôi trồng thủy sản trong đó đánh bắt là hoạt động lâu đời của con người nhằm cung cấp thực phâm cho mình thông qua các hình thức đánh bắt cá và các thủy sinh vật khác. Những đặc điểm chủ yếu của nông nghiệp “Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được.
Đắt đai là điều kiện cần thiết để con người sinh tồn và đặc biệt quan trọng khi là tư liệu sản xuất lương thực, thực phẩm cung cấp cho sự sống của con người. Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích nhưng sức sản xuất của ruộng đất là chưa có giới hạn. Chính vì thế con người luôn tìm mọi biện pháp. để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn vị diện tích với chỉ phí thấp nhất trên đơn vị sản phẩm.
Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phụ thuộc. vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt, ở mỗi vùng mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết - khí hậu rất khác nhau. Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa bàn có địa hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động nông nghiệp cũng không giống. Điều kiện thời tiết khí hậu với lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng v.
trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và sử dụng. Do điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau giữa các vùng đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rắt rõ nét. Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống - cây trồng và vật nuôi. Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo quy luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phat trié và diệt vong).
Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm. Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thường xuyên chọn lọc, bồi dục các giống hiện có, nhập nội những giống tốt, tiến hành lai tạo để tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điều kiện từng vùng và từng địa phương. Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao do sự biến thiên về điều kiện thời tiết — khí hậ , mỗi loại cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau, tính thời vụ có tác động rất quan trọng đối với nông dân. Để khai thác và tận dụng lợi thế về điều kiện thời tiết thuận lợi, đòi hỏi phải thực hiện những công việc ở thời vụ tốt nhất như thời vụ gieo trồng, bón phân, làm cỏ, tưới tiêu v.
Việc thực hiện kịp thời vụ cũng dẫn đến tình trạng căng thắng về lao động đòi hỏi phải có giải pháp tổ chức lao động hợp lý, cung ứng vật tư - kỹ thuật kịp thời, trang bị công cụ, máy móc thích hợp, đồng thời phải coi trọng việc bố trí cây tròng hợp lý, phát triển ngành nghề dịch vụ, tạo thêm việc làm ở những thời kỳ nông nhàn. Trong nên kinh tế hiện đại, nông nghiệp trở thành ngành sản xuất hàng hóa, biểu hiện là việc hình thành và phát triển các vùng chuyên môn hóa nông nghiệp va day mạnh chế biến nông sản để nâng cao giá trị thương phẩm. Khái niệm Quản lý nhà nước về nông nghiệp Theo Giáo trình Quản lý nhà nước về kinh tế của Phan Huy Đường (2010) [5], tác giả cho rằng: “Trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người, quản lý xuất hiện như một tắt yếu khách quan. Có thể có nhiều đạng quản lý, nhiều chủ thể quản lý khác nhau trong sự vận động và phát triển của xã hội.
Ở đây, ta đi sâu vào một dạng quản lý rất cơ bản đặc thù, đó là quản lý nhà nước. Có thể định nghĩa quản lý nhà nước như sau: quản jÿ' nhà nước là một dạng quản lý do Nhà nước làm chủ, định hướng, điều hành, chỉ phối. để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định ” [5, tr.27] 13 Trong cuốn Giáo trình Quản lý nhà nước về kinh tế của Đỗ Hoàng Toàn va Mai Văn Bưu (2005) [15], tác giả nêu ra: “Quán lý kinh tế quốc dân hay còn gọi là quản lý nhà nước vẻ kinh té, là sự hoạt động quản lÿ' do Nhà nước tiến hành đối với toàn bộ nên kinh tế quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội nhất định. Theo nghĩa rộng, quản lý kinh tế quốc dân được hiểu là hoạt động quản lý của toàn thể bộ máy Nhà nước, thực hiện thông qua cả ba cơ quan Nhà nước: lập pháp, hành pháp và tư pháp.
“Theo nghĩa hẹp, quản lý kinh tế quốc dân được hiểu như hoạt động quản lý của bộ máy Nhà nước nhằm điều hành hoạt động thường xuyên của nền kinh tế quốc dân trên cơ sở và trong khuôn khổ pháp luật quy định; nó được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ). Theo nghĩa này, quản lý kinh tế quốc dân cũng được gọi là quản lý hành chính - kinh tế ” [15, tr. Trong Giáo trình Kinh tế nông nghiệp của Vũ Đình Thắng (2013) [13], tác giả cho rằng: “Quản lý nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nông nghiệp thông qua các công cụ kế hoạch, pháp luật và các chính sách để tạo điều kiện và tiền đề, môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh nông nghiệp hướng tới mục tiêu chung của toàn nền nông nghiệp; xử lý những việc ngoài khả năng tự giải quyết của đơn vị kinh tế trong quá trình hoạt động kinh tế trên tắt cả các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp; tiết các lợi ích giữa các vùng, các ngành, sản phẩm nông nghiệp, giữa nông nghiệp với toàn bộ nền kinh tế; thực hiện sự kiểm soát đối với tắt cả các hoạt động trong nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn làm ổn định và lành mạnh hóa mọi quan hệ kinh tế và xã hội ”. Từ những quan niệm trên, luận văn đưa ra khái niệm: Quản lý nhà nước về nông nghiệp là một bộ phận trong quản lý kinh tế quốc dân, thể hiện sự tác 14 động có tổ chức và bằng quyền lực của Nhà nước đối với nông nghiệp thông qua các công cụ kế hoạch, pháp luật và các chính sách nhằm hướng tới mục tiêu chung của toàn nên nông nghiệp.
Vai trò của QLNN đối với nông nghiệp Trong quá trình phát triển nông nghiệp, quản lý nhà nước có vai trò rất quan trọng, góp phần vào điều chỉnh, hướng dẫn quá trình vận động nội tại của nông nghiệp phù hợp với các kiện khách quan và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của nền kinh tế. Vai tr quản lư nhà nước về nông. nghiệp được thể hiện như sau: a. Định hướng sự phát triển của nông nghiệp: Nhà nước định hướng.
phát triển nông nghiệp phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội trong. nước, phù hợp với xu thế, điều kiện kinh tế khu vực và thế giới bằng những. chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển nông nghiệp như Chiến lược dịch chuyên cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; Chiến lược phát triển các. vùng kinh tế; Chiến lược phát triển khoa học công nghệ; Chiến lược sản xuất và xuất khâu v.
Nhà nước định hướng phát triển nông nghiệp góp phần vào. thúc đây sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; hoạch định chính sách, chỉ tiêu kế hoạch vĩ mô cho từng thời kỳ; thực hiện xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống và văn minh xã hội. Điều tiết các hoạt động sản xuất nông nghiệp: Việc đảm bảo sự phát triển hài hoà cân đối của ngành nông nghiệp địa phương cần thiết phải xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp phù hợp với chiến lược phát triển của nề kinh tế địa phương. Trên cơ sở xác định chiến lược phát triển, Nhà nước.