CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI 1. Tổng quan về các tổ chức phi chính phủ 1.1 Khái niệm về tổ chức phi chính phủ trên thế giới Tổ chức Phi chính phủ theo tiếng Anh thường gọi là Non Governmental Organization (viết tắt là NGO), theo tiếng Pháp là Organisation Non Gouvernementale (viết tắt là ONG) Theo tổ chức Ngân hàng thế giới (World Bank) các tổ chức PCP được xác định là những nhóm tổ chức tư nhân theo đuổi các hoạt động để giảm bớt đau khổ, thúc đẩy các lợi ích của người nghèo, bảo vệ môi trường, cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản hay đảm nhiệm việc phát triển cộng đồng. Với cách sử dụng rộng rãi hơn thì thuật ngữ “tổ chức phi chính phủ” có thể áp dụng cho các tổ chức phi lợi nhuận mà hoạt động của chúng hoàn toàn hoặc phần lớn độc lập với chính phủ. Giá trị của các tổ chức PCP chủ yếu thể hiện qua hoạt động viện trợ từ thiện và các dịch vụ tình nguyện với đặc điểm chủ yếu là các nguyên tắc lòng vị tha và tự nguyện.
Tùy theo đặc thù và tính chất cần nhấn mạnh mà ở các nước sử dụng những thuật ngữ khác nhau để chỉ các tổ chức phi chính phủ. Ở Pháp gọi là tổ chức kinh tế - xã hội (Économie Sociale); Mỹ thì gọi là tổ chức phi lợi nhuận hay tổ chức tự nguyện cá thể (Private Voluntary Organizations); Vương quốc Anh gọi là hội từ thiện công (Public Charities)… Tóm lại về mặt định nghĩa pháp lý cũng như trong cách gọi về tổ chức phi chính phủ tuy không phải tất cả các nước trên thế giới đều hoàn toàn thống nhất với nhau nhưng đều là tự nguyện và không thuộc chính phủ.2 Khái niệm về tổ chức PCPNN ở Việt Nam Trong bối cảnh đất nước đang phát triển và đổi mới, mở cửa ra với thế giới, Chính phủ nước ta đã thu hút một số lượng ngày càng tăng các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (TCPCPNN) đến hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Hầu hết trên các địa phương, đặc biệt là các vùng kinh tế - xã hội phát triển còn khó khăn, đã nhận được sự hỗ trợ từ các TCPCPNN thông qua các dự án như chăm sóc sức khỏe, phát triển sinh kế cho người dân, xây dựng đê chống lũ lụt, cung cấp nguồn nước sạch cho vùng nông thôn, hỗ trợ phụ nữ nghèo thông qua quỹ vốn xoay vòng, xây dựng trường học và hỗ trợ dụng cụ học tập cho trẻ em cùng nhiều hoạt động khác. Mặt khác, tất cả những hỗ trợ này có thể được coi là khiêm tốn so với quy mô cần thiết, nhưng chúng đã đóng góp một phần quan trọng giúp chính quyên địa phương và người dân phát triển hơn, qua đó giúp chúng ta hiểu rõ hơn vầ tôn chỉ, mục đích hoặt động và các mặt tích cực của sự có mặt của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam.
Căn cứ Nghị định số 58/2022/NĐ-CP ngày 31/8/2022 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam, quy định “Tổ chức phi chính phủ nước ngoài” là tổ chức phi lợi nhuận, quỹ xã hội, quỹ tư nhân được thành lập theo pháp luật nước ngoài; có nguồn vốn hợp pháp từ nước ngoài; hoạt động hỗ trợ phát triển, viện trợ nhân đạo tại Việt Nam không vì mục đích lợi nhuận và các mục đích khác; không quyên góp tài chính, vận động tài trợ, gây quỹ từ các tổ chức, cá nhân Việt Nam. Các tổ chức này khi đến Việt Nam hoạt động sẽ được cấp một trong 2 loại giấy phép: Giấy đăng ký hoạt động vầ Giấy đăng ký lập Văn phòng đại diện. Công tác QLNN về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN 1.1 Khái niệm về QLNN về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN Có nhiều ý kiến thống nhất cho rằng: Quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lực theo một quy trình với những nguyên tắc, phương pháp, phong cách, nghệ thuật và các công cụ của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý để đạt được mục tiêu của tổ chức trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. 8 Tuy nhiên, đến nay vẫn có nhiều cách hiểu về việc QLNN với những cách tiếp cận khác nhau: Tiếp cận từ sự ra đời của nhà nước và quá trình lao động, khái niệm quản lý được hiểu “là một phạm trù xuất hiện trước khi có nhà nước với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn.
Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời lao động và bản thân quản lý cũng là một loại lao động”. Từ cách tiếp cận hệ thống thì quản lý nhà nước: “.là hoạt động của toàn bộ bộ máy nhà nước từ cơ quan quyền lực Nhà nước: Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, các cơ quan hành chính nhà nước: Chính phủ, Ủy ban hành chính nhà nước, cơ quan kiểm soát: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân các cấp”. Theo đó, quan niệm này cho rằng QLNN gồm có các bộ máy lập pháp, hành pháp cũng như cơ quan tư pháp. Một cách tiếp cận khác cho rằng, quản lý nhà nước là hoạt động của riêng hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước: Chính phủ, các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, các sở, phòng ban chuyên môn.
Từ việc tìm hiểu trên đây, luận văn cho rằng: "Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý nhằm đạt các mục tiêu các chủ thể quản lý thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và nguyên tắc quản lý nhà nước trên cơ sở pháp luật. Quản lý nhà nước phải luôn luôn gắn với những mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ cụ thể". QLNN về kinh tế là sự tác động lên nền kinh tế một cách có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước để đảm bảo việc sử dụng các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước một cách hiệu quả nhất, tận dụng tốt các cơ hội, cụ thể hóa các mục tiêu trong điều hành, quản lý kinh tế - xã hội nói chung khi đất nước đang trong quá trình hội nhập và mở rộng hợp tác quốc tế. QLNN về kinh tế là một trong các yếu tố chính của quản lý xã hội nói chung, đảm bảo có sự liên kết chặ chẽ với các hoạt động quản lý khác.
9 Theo nghĩa rộng, QLNN về kinh tế được thực hiện bằng cả ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước. Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ ở Trung ương và UBND tỉnh ở cấp tỉnh). Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng các công cụ quản lý. Hiện nay công cụ quản lý nhà nước về kinh tế được hiểu theo 2 nghĩa: Dụng cụ và phương tiện, là những công cụ này sẽ giúp nhà nước thực hiện được hoạt động quản lý của mình.
Từ những khái niệm trên có thể đưa ra khái niệm về QLNN về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước, để các tổ chức này đảm bảo triển khai hoạt động đúng mục đích nhân đạo từ thiện, phù hợp với luật pháp của Việt Nam và những yêu cầu chung về phát triển kinh tế - xã hội, bên cạnh đó cũng phải đảm bảo rằng lợi ích chính đáng của các tổ chức PCPNN được pháp luật bảo vệ khi hoạt động tại Việt Nam, duy trì mối quan hệ hài hòa với các đối tác Việt Nam.2 Nguyên tắc QLNN về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN Đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN thì công tác QLNN về mặt kinh tế là một phần của hoạt động QLNN nói chung. Chính vì vậy, lĩnh vực quản lý này cũng phải tuân thủ những nguyên tắc quản lý nhà nước xã hội chủ nghĩa, là những nguyên tắc cho thấy bản chất của xã hội chủ nghĩa của hoạt động quản lý nhà nước. Cụ thể có những nguyên tắc cơ bản sau đây: - Nguyên tắc Nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý, Đảng lãnh đạo Nguyên tắc này được xác định là nguyên tắc cơ bản và cũng là cơ chế chung của công tác quản lý xã hội, bao gồm cả việc quản lý công việc phi chính phủ của các tổ chức nước ngoài. Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu quan trọng: công tác QLNN phải thúc đẩy vai trò của nhân dân, tôn vinh vai trò lãnh đạo của Đảng và đồng nghĩa với việc xác định hướng đi theo Chủ nghĩa xã hội.
Cụ thể, trước tiên việc quản lý các tổ chức PCPNN bắt buộc tuân thủ hướng dẫn và chính sách của Đảng về đối ngoại nói 10 chung và đối ngoại nhân dân nói riêng; phải có sự quản lý của Nhà nước từ cấp Trung ương và chiến lược lâu dài; mọi quyết định trong công tác QLNN nhằm phục vụ quyền và lợi ích của người dân, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của nhân dân trong công tác quản lý. Mục tiêu cuối cùng là biến người dân từ việc chỉ là bên tiếp nhận thụ động các khoản viện trợ trở thành đối tác chủ động, tích cực trong cơ chế hợp tác ba bên: Chính quyền - nhân dân - các tổ chức PCPNN. - Nguyên tắc tập trung dân chủ Có thể nói, nguyên tắc “Tập trung dân chủ” quan trọng nhất, điều khiển tất cả hoạt động của tổ chức, sinh hoạt trong nội bộ và phương thức làm việc. Tập trung, dân chủ khi được hiểu đúng và làm đúng sẽ cho thấy hai nhân tố nguyên tắc này hoàn toàn tương thích, không tạo ra mâu thuẫn, không hạn chế lẫn nhau.
đó, Nhà nước sẽ là cơ quan đảm bảo tính thống nhất trong quản lý, mang tính chiến lược, nhiệm vụ và quyền hạn giải quyết các vấn đề cụ thể sẽ do các bộ, ngành và địa phương thực hiện nhằm khuyến khích sự sáng tạo, tính chủ động và sự linh hoạt của các cấp, các ngành. Tập trung được thực hiện để tránh tình trạng lỏng lẻo, làm nửa vời, hoặc sự thiếu quản lý dẫn đến các vấn đề như sự tự do chủ nghĩa, thiếu quyền lực trung ương, và sự mất kiểm soát.