CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THUC TIEN VE NANG CAO CLĐT NGHE DIEU KHIEN PHUONG TIEN DTND 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về nâng cao CLĐT người DKPT ĐTNĐ 1. Những công trình nghiên cứu về nâng cao CLĐT người ĐKPT ĐTNĐ và những van đề liên quan Dưới đây là một số công trình nghiên cứu đã công bồ có liên quan đến dé tài: Nguyễn Xuân Phương (2009), Nghiên cứu phát triển nguôn nhân lực hàng hải đáp ứng yêu cầu chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Trên thế giới hiện nay, đa số các nước phát triển không phân tách phạm vi quản ly hang hải và DTND như ở Việt Nam.
Người dân muốn hoạt động nghề đường thủy đều được dao tạo và huấn luyện theo tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên Việt Nam có điều kiện tự nhiên và xã hội đặc thù, số lượng sông kênh rạch nhỏ, người dân hoạt động trên đường thủy chủ yếu là người dân lao động có trình độ văn hóa thấp. Vì vậy để phù hợp với thực tiễn, cơ quan quản lý nhà nước tại Việt Nam đã phân tách ra hai lĩnh vực quản lý đào tạo khác nhau là đào tạo hàng hải và đào tạo đường thủy. Về cơ bản hai hình thức đào tạo có phần tương đồng nhưng tiêu chuẩn đầu ra của đào tạo đường thủy được hạ thấp cho phù hợp với thực tiéntinh hình KT -XH ở Việt Nam hiện nay.
Luận văn nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực hàng hải đáp ứng yêu cầu chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” của tác giả Nguyễn Xuân Phuong chỉ nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao CLDT nguồn nhân lực hàng hải tuy nhiên cũng cho ta cái nhìn tổng quan về tình hình phát triển nghề ĐKPT DTND trong tương lai. Cục ĐTNĐ VN (2010), Báo cáo Tổng kết công tác ATGT năm 2010. Báo cáo tổng kết công tác ATGT hang năm được Cục DTND VN xây dựng, tổng hợp từ số liệu ATGT hàng tháng do phòng chuyên môn của Cục thống kê và số liệu tình hình tai nạn giao thông DTND do Cục Cảnh sát giao thông đường thủy cung cấp. Báo cáo cho ta cái nhìn toàn cảnh về tình hình tai nạn giao thông trong cả nước, nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông ĐTNĐ mà trong đó phải kế đến nguyên nhân do người DKPT DTND chưa có GCNKNCM chiếm tỷ lệ khá lớn.
Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục tình trạng mat ATGT DTND trong thời gian tới. Cục ĐTNĐ VN (2011), Dé án 88 về Công tác đăng ký và đào tạo thuyên viên, người lái phương tiện. Đề án 88 về nâng cao công tác đăng ký và đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa là công trình nghiên cứu do Cục ĐTNĐ VN xây dựng trên cơ sở thực hiện Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 24/8/2011 của Chính phủ về tăng cường thực hiện các giải pháp trọng tâm bảo đảm trật tự ATGT. Đề án 88 phan ánh thực trạng công tác đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện hiện nay và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao số lượng người điều khiển PTĐTNĐ có GCNKNCM, giảm thiểu tai nạn giao thông DTND chứ chưa có các giải pháp và nghiên cứu chuyên sâu về nâng cao công tác quản lý hoạt động đào tạo người ĐKPT DTND.
Luận văn thạc sĩ đề tài Đảo tạo phát triển nguồn nhân lực vận tải ĐTNĐ khu vực Nam Bộ đến năm 2020 (Thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa) của tác giả Đặng Lợi là công trình nghiên cứu về công tác đào tạo thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa. Tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu mô hình, nội dung và giáo trình đào tạo thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực vận tải tại khu vực Nam Bộ. Nhìn chung công trình nghiên cứu của tác giả Đặng Lợi có quy mô nghiên cứu hẹp và chỉ nghiên cứu chuyên sâu vào mô hình đào tạo thuyền trưởng chứ chưa có cái nhìn bao quát, tong thé về công tác quản lý hoạt động dao tạo người ĐKPT ĐTNĐ tại Việt Nam. Những khoảng trồng can nghiên cứu Từ những tổng quan nghiên cứu trên, tính đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có công trình nghiên cứu nao di sâu vào lĩnh vực quản lý hoạt động đào tạo và nâng cao CLĐT người ĐKPT DTND tại Việt Nam.
Việc phát triển ngành vận tải nói chung và vận tải đường thủy nói riêng ở mỗi quốc gia đều là một nhiệm vụ trọng tâm của việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho nền kinh tế đất nước, đảm bảo ANQP và đòi hỏi phát triển trước một bước. Thực tế cho thay số người điều khiển chưa có GCNKNCM còn chiếm tỷ lệ cao đã ảnh hưởng lớn đến công tác giữ gìn, bảo đảm trật tự ATGTDTND và đang diễn biến rất phức tạp, gây bức xúc trong dư luận xã hội, tác động xấu đến uy tín, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, một trong những nguyên nhân chính gây mất trật tự ATGT và tai nạn giao thông do người DKPT thiếu hiểu biết, nhận thức về ATGT kém, không tuân thủ quy tắc giao thông, đưa phương tiện đi sai luồng, đâm vào chướng ngại vật, bãi cạn hoặc các công trình, chở quá tải, khả năng xử lý tình huống của người điều khiển yếu kém, sử dụng phương tiện không đúng mục đích .dẫn đến các vụ tai nạn nghiêm trọng, thảm khốc gây thiệt hại về người, tài sản của nhà nước và nhân dân. Điển hình là vụ đắm đò ở Quế Trung - Qué Son, Cà Tang - Quảng Nam, Quảng Hải - Quảng Trạch - Quảng Bình, Chôm Lôm, Con Cuông - Nghệ An, Tu Vũ - Phú Thọ, Cửa Lục - Quảng Ninh, vụ tai nạn đối với tàu Diễm Tính tại Cà Mau, vụ đắm tàu Trường Hải 06 trên vịnh Hạ Long, tàu Dìn Ký trên sông Sài Gòn. Gần đây là các vụ tai nạn nghiêm trọng như: ngày 06/3/2016 trên sông Kinh Môn thuộc dia ban tỉnh Hai Duong, tàu Thanh Luân 28 lưu thông theo hướng Hải Dương - Hải Phòng đã va đâm làm gãy dầm bê tông cốt thép dự ứng lực 24m của cầu An Thái (nối thị tran Phú Thai, huyện Kim Thành với thị tran Kinh Môn, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương); ngày 20/3, sa lan chở 800 tan cát do hai tài công người miền Tây chưa có băng lái điều khiển đã đâm sập cầu Ghénh, tai nạn khiến cầu sập, tuyến đường sắt Bắc - Nam bị đứt mạch.
Số lượng người ĐKPT có trình độ cao thấp, các cơ sở dao tao mới chi tập trung vào số lượng, còn CLĐT nhìn chung chưa cao. Điều này đòi hỏi Cục ĐTNĐ VN là cơ quan quản lý chuyên ngành phải khẩn trương xây dựng khung pháp lý đủ mạnh, xây dựng quy chế phối hợp, tăng cường kiểm tra đối với hoạt động đảo tạo người DKPT DTND. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến CLĐT chưa cao như lực lượng cán bộ quản lý còn mỏng, sự ràng buộc trách nhiệm của các CSDN còn yếu, tâm lý phổ cập việc cấp GCNKNCM cho người ĐKPT; kinh phí hỗ trợ cho hoạt động thanh kiểm tra còn ít,.Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm quản lý hoạt động đào tạo chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ năng lực của người ĐKPT gây ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng vận tải, tình hình an toàn trật tự giao thông, ảnh hưởng gián tiếp đến sự phát triển KT - XH của đất nước. Lĩnh vực đào tạo người điều khiển PTTNĐ hiện nay đã được xã hội hóa, các tổ chức cá nhân tham gia vào công tác đào tạo chiếm số lượng lớn, chủ yếu là tự phát chứ chưa có quy hoạch đồng bộ.
Nguyên nhân do công tác lập kế hoạch đào tạo chưa có sự thong nhất, thiếu tinh liên kết giữa các cơ so đào tạo với nhau. Cơ chế thu chi của các cơ sở cũng tự phát, cạnh tranh dễ dẫn đến tiêu cực đòi hỏi cần có những quy định khung mang tính định hướng của cơ quan quản lý nhà nước có thâm quyền.2 Cơ sở lý luận về nâng cao CLĐT người ĐKPT ĐTNĐ 1.1 Một số khái niệm *Đường thủy nội địa Là luồng, âu tàu, các công trình đưa phương tiện qua đập, thác trên sông, kênh, rạch hoặc luồng trên hồ, đầm, phá, vụng, vịnh, ven bờ biển, ra đảo, nối các đảo thuộc nội thủy của một Quốc gia được tô chức quản lý, khai thác GTVT. (Quốc hội khóa XI, 2004. Luật Giao thông đường thủy nội địa.
Hà Nộn) *Vận tải Theo nghĩa rộng, vận tải là một quy trình kỹ thuật nhằm di chuyên vị trí của con người và vật phẩm trong không gian. Theo nghĩa hẹp (dưới giác độ kinh tế), vận tải là sự di chuyên vị trí của hành khách và hang hoá trong không gian khi thoả mãn đồng thời 2 tính chat: là một hoạt động sản xuất vật chất và là một hoạt động kinh tế độc lập. *NÑgười DKPT thủy nội dia Phương tiện thủy nội địa là tàu, thuyền và các cau trúc nỗi khác, có động cơ hoặc không có động cơ, chuyên hoạt động trên ĐTNĐ. (Quốc hội khóa XIII, 2014.
Luật sửa đổi bổ sung mot số diéu của Luật Giao thông đường thuy. Hà Nội) Thuyên viên là người làm việc theo chức danh quy định trên phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần trên 15 tấn hoặc phương tiện có động cơ tổng công suất máy chính trên 15 sức ngựa hoặc phương tiện có sức chở trên 12 người.( Quốc hội khóa XIII, 2014. Luật sửa đổi bổ sung một số diéu của Luật Giao thông đường thủy. Hà Nội) Người lái phương tiện là người trực tiếp ĐKPT không có động cơ trọng tải toàn phần đến 15 tấn hoặc phương tiện có động cơ tổng công suất máy chính đến 15 sức ngựa hoặc phương tiện có sức chở đến 12 người hoặc bè.(Quốc hội khóa XIII, 2014.
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giao thông đường thuy. Ha Noi) Như vậy, đối với ngành DTND những người thực hiện ĐKPT được phân làm các chức danh khác nhau căn cứ theo công suất động cơ hoặc sức chở hoặc bè. Tại Luận văn này tác giả gọi chung thành khái niệm người ĐKPT DTND. Từ những khái niệm nêu trên có thể đưa ra định nghĩa về người ĐKPT DTND như sau: Người ĐKPT ĐTNĐ là người có chức danh thuyén viên và người lái phương tiện tàu, thuyén và các cấu trúc noi khác, có động cơ hoặc không có động cơ, chuyên hoạt động trên DTND.
GCNKNCM thuyền trưởng là giấy chứng nhận đủ kha năng đảm nhiệm chức danh thuyền trưởng trên PTĐTNĐ (Quốc hội khóa XIII, 2014. Luật sửa đối bồ sung một số điều của Luật Giao thông đường thủy.