Chương 1: Cơ sở lí luận về nâng cao chất lƣợng nhân lực trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lƣợng nhân lực tại Công ty TNHH Một thành viên 189. Chương 3: Một số biện pháp nâng cao chất lƣợng nhân lực tại Công ty TNHH Một thành viên 189. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm, vai trò, phân loại nhân lực 1. Một số khái niệm, phân loại nhân lực 1. Khái niệm nhân lực Hiện nay có khá nhiều khái niệm về nhân lực, theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc thì Nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước. ; Thủ tƣớng Phan Văn Khải trong buổi nói chuyện với cán bộ lãnh đạo thành phố Hà Nội đăng trên web “Dân trí ”cũng từng khẳng định rằng: Nhân lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta; còn theo GS,TS kinh tế Đ Văn Phức, Nhân lực của doanh nghiệp là toàn bộ khả năng lao động mà doanh nghiệp cần và huy động được cho việc thực hiện hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp.
Nhân lực của doanh nghiệp còn gần nghĩa với sức mạnh của lực lượng lao động, sức mạnh của đội ngũ người lao động, sức mạnh của đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức của doanh nghiệp. Khả năng lao động của một con người là khả năng đảm nhiệm, thực hiện, hoàn thành công việc bao gồm các yếu tố: Sức lực, trí lực, tâm lực…[10, tr17]. Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm nhân lực, nguồn nhân lực nhƣng có một điểm chung đó là nhân lực của một tổ chức đƣợc hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết lại bởi mục tiêu của tổ chức đó. Khái niệm chất lượng nhân lực Năng lực thông qua con ngƣời ở các doanh nghiệp đƣợc hiểu nhƣ là khả năng của đội ngũ nhân viên trong công ty.
Khả năng này đƣợc thể hiện trên các khía cạnh: Nhân lực đóng góp cho sự thành công của công ty trên các khía cạnh chất lƣợng cao, dịch vụ tuyệt hảo, khả năng đổi mới; kỹ năng trong 8 công việc cụ thể và năng suất của đội ngũ nhân viên. Đây là những yếu tố then chốt mang lại sự thành công của các tổ chức. Tuy vậy, không phải tổ chức nào cũng có thể thành công trên hầu hết tất cả các khía cạnh trên về nhân lực và thƣờng ngƣời ta chọn các yếu tố trọng tâm phù hợp với thực tiễn và chiến lƣợc của công ty. Năng lực của nhân lực là sự tổng hòa của các yếu tố kiến thức, kỹ năng, hành vi và thái độ góp phần tạo ra hiệu quả công việc của m i lao động.
Kiến thức là những điều hiểu biết có đƣợc hoặc do từng trải, hoặc nhờ học tập. Nó gồm 3 yếu tố: Kiến thức tổng hợp (những hiểu biết chung về thế giới), kiến thức chuyên ngành (về một vài lĩnh vực đặc trƣng nhƣ kế toán, tài chính, kĩ thuật, …) và kiến thức đặc thù (những kiến thức đặc trƣng mà ngƣời lao động trực tiếp tham gia hoặc đƣợc đào tạo). Để có thể tham gia vào công việc, những ngƣời làm việc tại các tổ chức cần phải có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nhất định. Trình độ chuyên môn không chỉ về chuyên nghành làm việc, mà còn đòi hỏi một kiến thức về đa chức năng, ví dụ hiểu biết về khách hàng; đối tác… Kỹ năng của ngƣời lao động là sự thành thạo, tinh thông về các thao tác, động tác, nghiệp vụ trong quá trình hoàn thành một công việc cụ thể nào đó.
Trong quá trình làm việc, có trình độ chuyên môn chƣa phải là đã đủ mà những ngƣời làm việc cần phải có kỹ năng ví dụ nhƣ, kỹ năng đàm phán, kỹ năng thuyết phục, tƣ vấn khách hàng hay những kỹ năng về quản lý, kĩ năng lắp ráp, kĩ năng xử lý tình huống trong sản xuất, … Thái độ của ngƣời lao động cho thấy cách nhìn nhận của ngƣời đó về vai trò, trách nhiệm, mức độ nhiệt tình đối với công việc, điều này đƣợc thể hiện qua các hành vi của họ. Một ngƣời dù có tài và có những kỹ năng đặc biệt, song họ sẽ không bao giờ có những đóng góp tích cực cho tổ chức khi họ có thái độ tiêu cực. Hay nói một cách khác, đạo đức làm việc tác động lớn tới hiệu quả công việc. Hơn nữa, đạo đức làm việc giúp mọi ngƣời có thể tăng khả năng làm việc, vƣợt lên trên cả khả năng của bản thân họ.
9 Nhƣ vậy, chất lƣợng nhân lực là sự hiện thực hóa năng lực thể chất và năng lực tinh thần sáng tạo, tìm kiếm, phát hiện thông tin và vật chất hóa thông tin thành mức độ hoàn thành công việc, sản phẩm và công nghệ mới. Do đó, khả năng sáng tạo, linh hoạt, đổi mới là đặc điểm nổi bật của chất lƣợng nhân lực. Nói một cách khác, tất cả các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động và phong cách làm việc cấu thành nền chất lƣợng nhân lực. Trong đó thể lực là nền tảng, là cơ sở để phát triển trí tuệ, là phƣơng tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ con ngƣời vào hoạt động thực tiễn; ý thức, tinh thần và tác phong làm việc là yếu tố chi phối hoạt động chuyển hóa của thể lực, trí tuệ thành thực tiễn; trí tuệ là yếu tố quyết định chất lƣợng nhân lực.
Chất lƣợng nhân lực của doanh nghiệp thể hiện ở sức mạnh hợp thành của các khả năng lao động. Tuy nhiên trong doanh nghiệp, chất lƣợng lao động đƣợc đánh giá thông qua m i quan hệ giữa chi phí (thời gian) lao động với hiệu quả lao động. Chất lƣợng lao động còn đƣợc biểu hiện ở hiệu quả của quá trình lao động do lực lƣợng lao động đó thực hiện. Trong quá trình này, con ngƣời thƣờng thực hiện hai chức năng chủ yếu: (1) Thực hiện những hoạt động cụ thể nhờ kỹ năng, kỹ xảo đã tích lũy đƣợc hoặc học tập đƣợc qua đào tạo để sản xuất ra sản phẩm theo khuôn mẫu có sẵn đƣợc thiết kế từ trƣớc; (2) Con ngƣời đồng thời thực hiện những chức năng sáng tạo ra sản phẩm mới, công nghệ mới không theo khuôn mẫu định trƣớc.
Ở đây, sự hao phí năng lực thể chất và năng lực tinh thần, tức sự vận dụng trí năng của ngƣời lao động phải đạt đến trình độ cao: Trình độ tìm kiếm, phát hiện thông tin mới và vật chất hóa nó thành sản phẩm và công nghệ mới. Khái niệm nâng cao chất lượng nhân lực Từ những luận điểm về chất lƣợng nhân lực, có thể hiểu rằng: Nâng cao chất lượng nhân lực chính là sự biến đổi trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi về cơ 10 cấu nhân lực. Nâng cao chất lƣợng nhân lực chính là sự tăng cƣờng sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và tinh thần của lực lƣợng lao động lên đến một trình độ nhất định để lực lƣợng này có thể hoàn thành đƣợc nhiệm vụ công việc nhằm đáp ứng nhu cầu của tổ chức, ngành và phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của một quốc gia, một doanh nghiệp. Nâng cao chất lƣợng nhân lực là tạo ra tiềm năng của con ngƣời thông qua đào tạo, bồi dƣỡng, tự bồi dƣỡng và đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng đó trong các hoạt động lao động thông qua việc tuyển dụng, sử dụng, tạo điều kiện về môi trƣờng làm việc (phƣơng tiện lao động có hiệu quả và các chế độ chính sách hợp lý,…), môi trƣờng văn hóa, xã hội, kích thích động cơ, thái độ làm việc của ngƣời lao động, để họ mang hết sức mình hoàn thành các chức trách, nhiệm vụ đƣợc giao.
Để phát triển nhanh và bền vững, m i doanh nghiệp cần nâng cao chất lƣợng nhân lực và có chính sách phát huy tối đa nhân lực đó. Việc quản lý và sử dụng đúng nhân lực sau khi đã đƣợc đào tạo phù hợp với năng lực của m i cá nhân phục vụ cho các công việc cụ thể là nhân tố quyết định dẫn đến thành công của doanh nghiệp. Nói một cách khái quát nhất, nâng cao chất lƣợng nhân lực là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con ngƣời vì sự tiến bộ kinh tế - xã hội và sự hoàn thiện bản thân của m i con ngƣời. Phân loại nhân lực (phân loại lao động) Việc phân loại lao động có ý nghĩa quan trọng trong việc qui hoạch lao động, phục vụ trực tiếp cho việc tính toán, lập dự toán cho việc tính toán chi phí lao động trực tiếp, gián tiếp.
Có nhiều tiêu chuẩn phân loại có mục đích, ý nghĩa và yêu cầu quản lý khác nhau. Căn cứ vào tính chất công việc mà ngƣời lao động đảm nhận, lao động của doanh nghiệp cũng nhƣ của từng bộ phận trong doanh nghiệp đƣợc chia thành 2 loại: Lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. 11 - Lao động trực tiếp gồm những ngƣời trực tiếp tiến hành hoạt động SXKD tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc dịch vụ nhất định. Theo nội dung công việc mà ngƣời lao động thực hiện, loại lao động trực tiếp đƣợc chia thành: Lao động SXKD chính, lao động SXKD phụ trợ, lao động của các hoạt động khác.
Theo năng lực và trình độ chuyên môn, lao động trực tiếp đƣợc phân thành các loại: + Lao động tay nghề cao: Gồm những ngƣời đã qua đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong công việc thực tế, có khả năng đảm nhận các công việc phức tạp đòi hỏi trình độ cao. + Lao động có tay nghề trung bình: Gồm những ngƣời đã qua đào tạo chuyên môn, nhƣng thời gian công tác thực tế chƣa nhiều hoặc những ngƣời chƣa đƣợc đào tạo qua trƣờng lớp chuyên môn nhƣng có thời gian làm việc thực tế tƣơng đối lâu đƣợc trƣởng thành do học hỏi từ thực tế. - Lao động gián tiếp: Gồm những ngƣời chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp. Theo nội dung công việc và nghề nghiệp chuyên môn, loại lao động này đƣợc chia thành: Nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính.