Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết đo lường, đánh giá trong giáo dục, đặc biệt phát triển mạnh ở Anh và Hoa Kỳ. Các nghiên cứu được phát hành rộng rãi thông qua các ấn phẩm và có hiệu đính tái bản hằng năm và được nhiều nước trên thế giới đón nhận để sử dụng và tham khảo.
Hệ thống lý luận về giáo dục, hệ thống lý luận về kiểm tra, đánh giá được nhiều tác giả nước ngoài nghiên cứu và hoàn thiện từ rất sớm. Hệ thống lý luận hiện đại về kiểm tra, đánh giá có nhiều quan điểm khác nhau và thường được trình bày thống nhất với hệ thống lý luận về hoạt động dạy học. Nói đến lý luận giáo dục hiện đại trước hết phải kể đến tác giả Benjamin Bloom với những nguyên tắc phân loại mục tiêu giáo dục. Đó là: biết, hiểu, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá.
Trong lĩnh vực quản lý chất lượng giáo dục đại học có thể kể đến Astin A.W với “Lý thuyết gia tăng giá trị” [2], cho rằng các trường đại học có chất lượng cao tập trung làm tăng sự khác biệt về kiến thức, kỹ năng và thái độ của sinh viên từ khi nhập trường đến khi ra trường. Chất lượng và hiệu quả giáo dục càng cao nếu sự khác biệt giữa đầu vào và đầu ra về kiến thức, kỹ năng và thái độ của sinh viên càng lớn. Đề cập đến cơ sở lý luận về công cụ kiểm tra đánh giá, chúng tôi có thể kể đến quan điểm của tác giả Rowntree : mục đích của “đánh giá” (Assessment) là nhằm đánh giá thành tích, năng lực và sự tiến bộ của người học; “đánh giá” (Evaluation) bao hàm luôn cả những yếu tố của hoạt động dạy học có tác động đến chất lượng học tập. Về cơ sở lý luận chung về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, có thể kể đến các tác giả: Andrew Taylor và Frances Hill với công trình “Quản lý chất lượng trong giáo dục” [1]; 6 tác giả Brent Davies và Linda Ellison với công trình “Quản lý các trường học trong thế kỷ XXI” [3]; tác giả Michel Develay “Một số vấn đề về đào tạo giáo viên” [24].
Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và vấn đề quả lý hoạt động này được các tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau nhưng tất cả các tác giả đều nhấn mạnh ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, vai trò của hoạt động quản lý, từng bước xây dựng, hoàn thiện cơ sở lý thuyết, cơ sở thực tiễn và quy trình cho hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học. Nghiên cứu ở trong nước Các nhà khoa học trong nước đã có có nhiều công trình xây dựng cơ sở lý luận về hoạt động kiểm tra, đánh giá và quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học, nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống lý luận quản lý giáo dục, giáo dục đại học, quản lý nhà trường, quản lý chất lượng giáo dục. Các nghiên cứu của các tác giả: Lê Khánh Bằng [5], Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt [25], Hà Thị Đức [11],… với các công trình nghiên cứu như “Một số vấn đề về kiểm tra đánh giá tri thức của học sinh”, “Cơ sở lí luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh trung học phổ thông”… Trong đó nổi bật là “Một số vấn đề kiểm tra đánh giá tri thức của học sinh” của tác giả Đặng Vũ Hoạt [17]. Với tư cách là người nghiên cứu sâu về lý luận dạy học, trong những bài viết của mình, tác giả đã trình bày những vấn đề về vị trí, chức năng và các quan điểm kiểm tra đánh giá tri thức của học sinh dưới góc độ lý luận dạy học hiện nay.
Theo tác giả “ Khi kiểm tra, đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo chúng ta cần kiểm tra thường xuyên, có hệ thống, có kế hoạch, kết hợp nhiều dạng, nhiều phương pháp kiểm tra… Đồng thời cần bồi dưỡng cho học sinh ý thức tự đánh giá một cách đúng đắn và khiêm tốn”. Kiểm tra, đánh giá đạt hiệu quả tốt cần đảm bảo tính toàn diện, đảm bảo tính phát triển, tính khách quan, chính xác, công bằng, tránh hình thức, thiên vị hay thành kiến, không quá dễ dãi 7 nhưng không quá khắt khe. Điều đó chẳng những giúp cho việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh mang lại kết quả cao mà còn góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh Nhiều nhà khoa học khác như: Trần Bá Hoành với công trình “Đánh giá trong giáo dục”[16]; Nguyễn Kế Hào với công trình “Đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp đánh giá đối với giáo dục phổ thông, cao đẳng và đại học sư phạm”[14]; Trần Thị Tuyết Oanh với công trình “Đánh giá và đo lường kết quả học tập”[29]; Lê Đức Ngọc với công trình “Đo lường và đánh giá thành quả học tập” [27]. Hầu hết các công trình này đều có hai phần nội dung chính là đề cập tới cơ sở lý luận của hoạt động giảng dạy nói chung, hệ thống lý luận về hoạt động kiểm tra, đánh giá nói riêng, các khái niệm công cụ và quan trọng là xây dựng cơ sở lý luận của các phương pháp, nội dung, hình thức kiểm tra đánh giá, các kỹ thuật xây dựng công cụ đo và đánh giá.
Tác giả Đặng Bá Lãm đã xây dựng và thử nghiệm được quy trình kiểm tra đánh giá trong một số môn học ở đại học. Các tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Bùi Tường, Hà Thị Đức, Phó Đức Hoà, Trần Thị Tuyết Oanh. đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống những cơ sở lý luận chung của vấn đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập. Đây là những công trình nghiên cứu đã chính thức được sử dụng làm giáo trình giảng dạy trong các trường đại học sư phạm.
Vấn đề kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học đã được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học với các khía cạnh khác nhau. Nhìn chung các quan điểm về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong nhà trường đều cho thấy: việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên phải theo một qui trình hợp lý thì mới đạt được tính chính xác, khách quan. Tuy nhiên, đến nay tại Trường Đại học Khoa học – Đại học thái nguyên chưa có tác giả nào nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Do vậy để đảm bảo chất lượng của hoạt động kiểm tra, đánh giá cần nâng cao công tác quản lý.
Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý nhưng có thể khẳng định quản lý là hoạt động gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là quá trình lựa chọn những tác động lên khách thể quản lý nhằm đảm bảo cho một hoạt động chung nào đó có kết quả mong muốn. Chủ thể quản lý cần biết sắp xếp và thể hiện hợp lý các tác động lên đối tượng bị quản lý, sao cho đảm bảo sự cân đối cả hai mặt ổn định và phát triển bộ máy. Trong quá trình hình thành và phát triển của lý luận quản lý, tùy theo cách tiếp cận mà khái niệm quản lý đã được các nhà nghiên cứu định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt (2005): “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” hoặc “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [33]. Trong thực tiễn, đã có nhiều cách hiểu và biểu đạt về khái niệm quản lý, tùy theo mục đích tiếp cận khác nhau của mỗi tác giả. Frederich Wiliam Taylor (1856 - 1915) người Mỹ cho là: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất”; còn theo PaulHersey và Ken Blanc Hard: Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích tổ chức. Theo tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động" [19].
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản lý là hoạt động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[6]. 9 Những định nghĩa trên tuy có khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ tiếp cận, nhưng đều thống nhất ở điểm chung: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra. Quản lý giáo dục QLGD là một loại hình quản lý xã hội, tức là quản lý hoạt động giáo dục trong xã hội. Đã có một số định nghĩa tiêu biểu về QLGD.Khuđôminxky cho rằng: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống giáo dục nhằm đặt mục đích đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ” [4]; còn M.Kônđakôp khẳng định: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính,.
nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng”[4]. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người.