Chương 1: Cơ sở lý luận về nghiên cứu khoa học và đào tạo 1. Nghiên cứu khoa học Theo truyền thong của nhiều đại hoc thé giới, nghiên cứu khoa học luôn là một bộ phận hợp thành chức năng của trường đại học. Tuy nhiên, tùy các thiết chế khác nhau của đại học ở mỗi quốc gia, mà chức năng nghiên cứu khoa học của đại học mang những đặc điểm và đạt được những trình độ khác nhau. Ngày nay, xã hội con người dang dan từ giã nền văn minh cơ học dé bước vào nền văn minh thông tin.
Hệ thống giáo dục của thé giới đã không ngừng biến đổi phù hợp với sự biến đổi của xã hội loài người. Hệ thống giáo dục ngày nay được mang khá đầy đủ dấu ấn của những công cuộc cải cách giáo dục trong xu thế của cách mạng công nghiệp. Các nhà nghiên cứu giáo dục hầu như đã thống nhất ý kiến cho răng các tiêu chí cơ bản của con người được đào tạo phải thé hiện ở ba mặt kiến thức, kỹ năng và hành VỊ. Hiện nay, ở nước ta ta còn tôn tại nhiêu cách hiêu rât khác nhau về khái niệm “nghiên cứu khoa học”.
Tác giả Vũ Cao Đàm đã nêu ra hai định nghĩa sau đây vê “nghiên cứu khoa học” [5]: Định nghĩa thứ nhất, nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật (tự nhiên, xã hội, con người), nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức, đồng thời sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đồi sự vật theo mục đích sử dụng. 14 Định nghĩa thứ hai, nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội với chức năng tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết: hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới, hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới đề cải tạo thế giới. Xét về mặt ban chất kỹ ndng thao tác, nghiên cứu khoa hoc là quá trình phát hiện van đề khoa học, hình thành và chứng minh luận điềm khoa học. Năng lực nghiên cứu khoa học Theo tác giả Vũ Cao Đàm cùng các cộng sự [6], năng lực nghiên cứu là sự thành thạo về kỹ năng hình thành và chứng minh luận điểm (tư tưởng) khoa học, tạo ra được kêt quả thỏa mãn yêu câu của mục tiêu nghiên cứu.
Như vậy, khi nói đến năng lực nghiên cứu là nói đến kỹ năng hình thành luận điềm (tư tưởng) khoa học và kỹ năng chứng minh luận điềm đó. Theo tác giả Vũ Cao Đàm [7], tiêu chí để đánh giá năng lực nghiên cứu là: — Biết phát hiện các sự kiện khoa học, nghĩa là biết phát hiện nơi xuất hiện mâu thuẫn giữa lý thuyết khoa học và thực tế. — Biêt đặt van đê nghiên cứu, hình dung rat rõ sẽ phải trả lời câu hỏi nào trong nghiên cứu. — Biết đưa ra luận điêm khoa học của mình, chính là luận điêm vê giải quyết van dé đã đặt ra ở trên.
— Biêt đưa ra nhiêu loại luận cứ đê chứng minh luận diém của minh. 15 — Biết sử dụng nhiều phương pháp thích hợp khác nhau dé tìm kiếm và chứng minh luận cứ và sử dụng hệ thống luận cứ để chứng minh luận điểm khoa hoc của minh. Hoạt động đào tạo Trên thế giới hiện nay, khi nhiều nước chuyển sang nên kinh tế dịch vụ hậu công nghiệp, giáo dục đại học càng trở nên quan trọng khi nó được coi là nền móng của kinh tế tri thức thế kỷ XXI. Vai trò của giáo dục đại học vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế này cũng như đối với những biến đổi xã hội.
Các trường đại học là những cơ quan trọng yếu nối kết thông tin, đào tạo và nghiên cứu. Hơn nữa, trường đại học là nơi giao tiếp về khoa học và công nghệ giữa các quốc gia khác nhau và các nền học thuật trên thế giới đang có mối liên hệ ngày càng tăng với các nền kinh tế. Giáo dục đại học đang thực hiện những chức năng cụ thể sau: [22] Đào tạo: Các nền kinh tế tri thức cần nhân sự có kỹ năng ở mọi trình độ và với số lượng ngày càng nhiều. Công nghệ đòi hỏi những kiến thức chuyên sâu, và điều này quan trọng không kém, kỹ năng thích nghỉ với những thay đổi công nghệ đang diễn ra với tốc độ rất nhanh.
Trường đại học và các trường nghề sau trung học cung cấp dịch vụ giáo dục và dao tao này. Các trường đại học có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra những nhà khoa học hàng đầu trong lực lượng nghiên cứu, cũng như trong việc tạo ra những người lao động trình độ cao vô cùng cần thiết đối với nền kinh tê mới. Nghiên cứu: Trường đại học cung cấp những nghiên cứu cơ bản và ứng dung cần thiết cho nền kinh tế tri thức. Mối liên hệ giữa trường đại học và công nghiệp sản xuất cũng như những liên quan về mặt khoa học trong lĩnh vực công nghệ sinh học và những lĩnh vực khác đã cho thấy giá trị và 16 sự liên quan mật thiết giữa nghiên cứu và đời sống.
Sản phâm mà các trường đại học tạo ra đã làm tăng một cách đáng ké những phương tiện cải thiện nền kinh tế. Truyền thông: Đối với cộng đồng học thuật, các trường đại học không chỉ liên quan đến truyền thông tri thức, mà còn là những mắt xích trọng yếu đối với việc tiếp thu và truyền đạt tri thức, đồng thời tiếp nhận chuyền giao tri thức từ cộng động khoa học quốc tế. Cải cách: Trường đại học tập hợp các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực chuyên môn trong một môi trường ngày càng nhấn mạnh tư duy liên ngành. Những trường đại học tốt nhất bao giờ cũng khuyến khích những hoạt động nghiên cứu và triên khai có tính chât liên ngành và đôi mới.
Diễn đàn văn hoá và xã hội: Vai trò của trường dai học như một diễn đàn thảo luận vé đời sông trí tuệ, chính tri và văn hoá thường là chưa được coi trọng ngang băng vai trò của nó trong khoa học ở thé ky XXI. La nơi lưu trữ tri thức cho toàn xã hội: Trường dai học, thông qua các thư viện, bao tàng, cùng các khoa và chương trình đào tạo, đóng góp to lớn vào việc sáng tạo và diễn giải các nền văn hoá cũng như lưu giữ các thành tựu của loài người. Một số nơi trên thế giới, như ở các nước đang phát triển, khi các nhà văn hoá, nhà bảo tàng còn ít ỏi, vai trò của trường đại học trong van dé này càng đặc biệt quan trọng. Đề thực hiện tốt các chức năng trên, hệ thống giáo dục đại học phát triển theo những đặc trưng đa dạng, thực tiễn và chất lượng cao.
Theo xu hướng xã hội hoá giáo dục này, hệ thong giáo duc dai hoc có những đặc trưng sau: [10] 17 Số lượng các trường đại học và cao đăng nhiều và đa dạng. Các trường đại học khác nhau về nhiều tiêu chí: Cơ quan trợ cấp (Chính phủ, tư nhân.); Loại bằng cấp đào tạo (Tiến sĩ, Thạc sĩ, cử nhân, cao đăng); Tính đa ngành của Chương trình (đơn ngành, đa ngành, đa lĩnh vực); Chức năng (giáo dục, nghiên cứu, dịch vụ). Các trường đại học cũng rất khác nhau về sứ mệnh, mục tiêu và qui mô để đáp ứng nhu cầu rất đa dạng và ngày càng cao của xã hội học tập về nâng cao dân trí, đào tạo nguôn nhân lực và bôi dưỡng nhân tài. Các trường đại học toàn diện có qui mô lớn (hàng vạn sinh viên, hang trăm mã ngành đào tạo), các trường đơn ngành thường có qui mô nhỏ; về bậc đào tạo: có trường chi đào tạo bac đại học, có trường dao tạo bậc thạc sĩ và có trường đào tạo cả bậc tiễn sĩ; có trường tập trung tại một địa điểm, có trường gồm nhiều địa điểm khác nhau.
Tuy nhiên bao giờ cũng có một tỷ lệ nhất định các đại học nghiên cứu chất lượng cao dé dao tao tinh hoa, tài năng (nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế tri thức). Các trường dai học có tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao, các trường gần như tự quyết định mọi hoạt động của nhà trường. Các trường đại học là nơi giao thoa của ba chức năng: Đảo tạo, Nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội, sự kết hợp chặt chẽ ba chức năng này hiện nay cũng là xu hướng cơ bản trong chiến lược phát triển giáo dục đại học của các nước trên thế giới. Các trường đại học không chỉ là trung tâm đào tạo mà thực sự trở thành các trung tâm nghiên cứu khoa học, sản xuất, sử dụng, phân phối, xuất khẩu tri thức và chuyền giao công nghệ mới hiện đại.
Trong đó, nghiên cứu khoa học và phục vụ thực tiễn vừa là phương tiện (học qua nghiên cứu), vừa là mục đích (học cho nghiên cứu) vừa là động lực để đào tạo, nhất là đào 18 tạo chất lượng cao. Nói một cách khác, nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội là yếu tố quyết định nhất tới chất lượng đảo tạo. Vì vậy, liên kết với các doanh nghiệp, với sản xuất (theo công thức: Nhà nước - Đại học — Cộng đồng — Doanh nghiệp) là xu hướng ngày một phát trién. Các trường dai học có vai trò rất quan trong trong các hoạt động khoa học và công nghệ của đất nước với ba thế mạnh: Tiềm năng to lớn về chất xám của đội ngũ cán bộ; Lực lượng hùng hậu sẵn sàng triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học; Tạo ra hiệu quả kép (sản phẩm khoa học và công nghệ và sản phẩm dao tạo).
Các trường đại học có giải pháp phù hợp dé hạ thấp quy mô dao tao đại hoc, nâng cao dần quy mô dao tạo sau đại học; giảm dan tỷ lệ giữa sinh viên và giảng viên dé day mạnh hoạt động nghiên cứu trong đội ngũ giảng viên (tỷ lệ này ở các trường đại học của nước ta là 25+30/1; ở Đại học Quốc gia Hà Nội là 23/1; trên thế giới tỷ lệ này là 10-15 sinh vién/1 giáo viên). Các trường Đại học là nơi tập hợp đội ngũ các nhà khoa học, các giáo sư dau ngành. Đối với các cán bộ giảng dạy đại học, bên cạnh hoạt động đảo tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học — dich vụ là hoạt động bắt buộc. Thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học, đội ngũ cán bộ giảng dạy luôn cập nhật kiến thức và nâng cao trình độ, cũng như học vị, học hàm.
Tỷ lệ thời gian dành cho các hoạt động này khác nhau tùy loại trường.