chương 1, để làm rõ cơ sở lý luận về chính sách nhân lực KH&CN trong trường đại học nhăm hình thành đại học định hướng nghiên cứu, trước tiên tác giả khảo sát các khái niệm cơ bản về đại học nghiên cứu trên thế giới và khái niệm về đại học định hướng nghiên cứu ở Việt Nam. Trường đại học nghiên cứu là trường đại học cam kết nghiên cứu giữ một phần vai trò trung tâm trong nhiệm vụ của nó, không quan trọng là trường công hay trường tư, hoặc nghiên cứu được tài trợ như thé nào [32][33]. Các trường đại học như vậy tập trung mạnh vào nghiên cứu và thường là những trường có tên tuổi nôi tiếng. Các khóa học đại học tại nhiều trường đại học nghiên cứu thường mang tính học thuật hơn là dạy nghề và có thé không trang bị cho sinh viên đáp ứng các ngành nghề đặc biệt, nhưng nhiều nhà tuyển dụng đánh giá cao bằng cấp từ các trường đại học nghiên cứu vì họ dạy các kỹ năng sống cơ bản như tư duy phản biện.
Trên thế giới, các trường đại học nghiên cứu chủ yếu là các trường đại học công lập, ngoại trừ ngoại lệ đáng chú ý là tại Hoa Kỳ và Nhật Bản [36]. Một trường đại học nghiên cứu cũng có thé kết hợp cả hai chức năng, tô chức một trường đại học nghệ thuật tự do cho sinh viên đại học trong khi vẫn duy trì sự tập trung cao độ vào nghiên cứu trong các chương trình cấp bằng sau đại học, như thường thấy ở các tổ chức Ivy League của Mỹ. Khái niệm về trường đại học nghiên cứu hiện đại xuất hiện lần đầu tiên ở Đức đầu thế kỷ 19, nơi mà Von Humboldt đã bảo vệ tầm nhìn của ông về Einheit von Lehre und Forschung (sự thống nhất trong giảng day và nghiên 15 cứu), như một phương tiện sản xuất một nền giáo dục tập trung vào chính lĩnh vực kiến thức (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn) thay vì các mục tiêu trước đây của giáo dục đại học, đó là phát triển sự hiểu biết về sự thật, vẻ đẹp va lòng tốt [37][38]. Geiger, một nhà sử học chuyên về lịch sử giáo dục đại học ở Hoa Kỳ, đã lập luận rằng "mô hình cho trường đại học nghiên cứu Mỹ được thành lập bởi năm trường cao đăng thuộc địa được thuê trước Cách mạng Mỹ (Harvard, Yale, Pennsylvania, Princeton và Columbia), năm trường dai học của tiểu bang (Michigan, Wisconsin, Minnesota, Illinois và California) và năm tô chức tu nhân được hình thành từ khi thành lập trường đại học nghiên cứu (MIT, Cornell, Johns Hopkins, Stanford và Chicago).
Từ những năm 1960, các trường đại học nghiên cứu của Mỹ và đặc biệt hệ thống đại học nghiên cứu công lập hàng đầu của Mỹ, Đại học California đã được dùng làm mô hình cho các trường đại học nghiên cứu trên toàn thế giới [39][40]. Các đặc điểm của ĐHNC thành công đã được John Taylor định nghĩa [34]: - Su hiện diện của nghiên cứu thuần túy và ứng dụng - Phan phối giảng dạy dựa trên nghiên cứu - _ Bê rộng của các ngành học - Ty lệ cao của các chương trình nghiên cứu sau đại học - Muc thu nhập bên ngoài cao - Một viễn cảnh quốc tế Theo Philip Altbach thì định nghĩa các trường đại học nghiên cứu cần để thành công là một tập hợp các đặc điểm chính khác nhau như: [41] - _ Đứng đầu hệ thống phân cấp học thuật trong một hệ thống giáo dục dai học khác biệt và nhận được sự hỗ trợ phù hợp - Cac tổ chức công cộng lớn - Jt cạnh tranh từ các tô chức nghiên cứu phi đại học, trừ khi chúng có két nôi chuỗi với các trường đại học 16 - Tài trợ nhiều hơn các trường đại học khác dé thu hút nhân viên và sinh viên tốt nhất và hỗ trợ cơ sở hạ tầng nghiên cứu - Ngan sách day đủ và bền vững - Tiềm năng tạo thu nhập từ học phí và sở hữu trí tuệ - _ Cơ sở vật chất phù hợp - Quyén tự tri - Tudo hoc thuat Một báo cáo của Viện Han lâm Khoa hoc Quốc gia năm 2012 đã xác định các trường đại học nghiên cứu, trong bối cảnh Hoa Kỳ, có các giá trị về tự do trí tuệ, sáng kiến và sáng tạo, xuất sắc và cởi mở, với các đặc điểm bổ sung như: [42] - _ Lớn và toản diện - "đa dang" của Clark Kerr - Nhấn mạnh kinh nghiệm cư trú đại học (được gan cờ đặc biệt là phan biệt các trường đại học nghiên cứu của Hoa Kỳ với các trường đại học ở lục địa châu Âu) - _ Kết hợp giáo dục sau đại học với nghiên cứu - C6 giảng viên tham gia nghiên cứu và học bỗng - _ Tiến hành nghiên cứu ở cấp độ cao - C6 giác ngộ vả lãnh đạo táo bạo Theo Tuyên ngôn Hợp phì: “Các trường ĐHNC được định nghĩa bởi những cam kết nghiêm túc và xuyên suốt của họ với hoạt động nghiên cứu khoa học; bởi sự ưu tú, bởi bề rộng và khối lượng những kết quả nghiên cứu của họ; và bởi cách thức văn hóa khoa học thẩm thấu, lan tỏa trong mọi hoạt động của họ, từ giảng dạy, nghiên cứu đến gắn kết với giới doanh nghiệp, với chính phủ và với cộng đồng xã hội. Việc đảo tạo bậc ĐH ở các trường ĐHNC được hưởng lợi to lớn từ những cơ hội mà nhà trường mang lại cho sinh viên trong những lớp học hay phòng thí nghiệm với các giáo sư và nghiên cứu sinh đang làm việc ở tuyến đầu của tri thức. Đào tạo sau ĐH ở các trường ĐHNC 17 được làm cho phong phú thêm nhờ sự gắn kết trực tiếp và mạnh mẽ của các nghiên cứu sinh trong việc thực hiện nghiên cứu, còn chất lượng và năng suất của hoạt động nghiên cứu trong trường thì được lợi rất nhiều nhờ sự sáng tạo và năng lượng của các nghiên cứu sinh.
Các trường ĐHNC thường chỉ là số ít trong hệ thống giáo dục ĐH của mỗi nước, nhưng bao giờ cũng chiếm một phan đáng kể thành quả nghiên cứu của quốc gia”[18]. Luật Giáo dục Dai học (GDĐH) số 08/2012/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2013 và Luật Giáo duc Đại học sửa đổi số 34/2018/QH14 sửa đồi, b6 sung một số điều của Luật Giáo dục Đại học được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 19 tháng 11 năm 2018 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2019, quy định căn cứ vào năng lực và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, cơ sở giáo dục đại học xác định mục tiêu phát triển, định hướng hoạt động như sau: Cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng. Trong đó, cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu có vai trò đặc biệt trong việc duy tri sự ưu tú, tạo ra những kiến thức mới, ý tưởng mới, sáng tạo mới nhằm dan dắt tiến bộ xã hội cũng như thúc đây sự giảu mạnh của quốc gia [1],[2]. Người thầy trong các trường ĐH ĐHNC không chỉ là những người nghiên cứu giỏi mà còn phải có cách dao tạo giỏi, dao tạo qua nghiên cứu và cho nghiên cứu.
Nói một cách khái quát, trong ĐHNC, hàm lượng NCKH rất cao trong mọi lĩnh vực hoạt động. Trường đại học, nhất là các DHNC là nơi giao thoa của ba chức năng: Đào tạo, NCKH, phục vụ xã hội và sự kết hợp chặt chẽ ba chức năng này hiện nay cũng là xu hướng cơ bản trong chiến lược phát triển giáo dục đại học của các nước trên thế giới. Các trường đại học không chỉ là trung tâm đào tạo mà đã thực sự trở thành các trung tâm NCKH, 18 sản xuất, sử dụng, phân phối, xuất khẩu tri thức và chuyên giao công nghệ mới hiện đại. Trong đó, NCKH và phục vụ thực tiễn vừa là phương tiện (học qua NC), vừa là mục đích (học cho NC) vừa là động lực dé dao tạo, nhất là đào tạo chất lượng cao.
Khái niệm nguồn nhân lực KH&CN Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) [43], thì nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây: - Đã tốt nghiệp đại học và cao đăng va làm việc trong một ngành KH&CN; - Đã tốt nghiệp đại học và cao đăng, nhưng không làm việc trong một ngành KH&CN nào; - Chưa tốt nghiệp đại học và cao đăng, nhưng làm một công việc trong lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương. Đây chính là khái niệm nhân lực KH&CN theo nghĩa rộng. Theo đó, có thé hiểu nhân lực KH&CN bao gồm cả những người đã tốt nghiệp dai học nhưng không làm việc trong lĩnh vực KH&CN. Khái niệm này dường như quá rộng đề thê hiện nguồn nhân lực hoạt động KH&CN của một quốc gia.
Do vậy, các nước thường sử dụng khái niệm nhân lực nghiên cứu phát triển (NCPT), hay còn gọi là R&D (research and development), dé thé hiện lực lượng lao động KH&CN của mình. Theo cuốn Cam nang FRASCATI - Hướng dẫn thống kê nghiên cứu phát triển của Tổ chức Hop tác và Phát triển kinh tế (OECD), nhân lực nghiên cứu phát trién bao gồm những người trực tiếp tham gia vào hoạt động nghiên cứu phát triển hoặc trực tiếp hỗ trợ hoạt động nghiên cứu phát triển. Nhân lực nghiên cứu phát triển được chia thành 3 nhóm: Nhóm 1: Các nhà nghiên cứu khoa học (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu): đây là những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp có trình 19 độ cao đăng/đại học, thạc si và tiễn sĩ hoặc không có văn bằng chính thức, song họ vẫn thường xuyên làm các công việc tương đương như nhà nghiên cứu/nhà khoa học, tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới. Nhóm 2: Nhân viên kỹ thuật và tương đương: nhóm này bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực của khoa học và công nghệ.
Họ tham gia vào nghiên cứu phát triển bằng việc thực hiện những nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật có áp dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của các nhà nghiên cứu khoa học nhóm | như đã nêu trên. Nhóm 3: Nhân viên phụ trợ trực tiếp nghiên cứu phát triển: bao gồm những người có hoặc không có kỹ năng, nhân viên hành chính văn phòng tham gia vào các dự án nghiên cứu phát triển.