Chương I: Cơ sở lý luận về công tác quản lý kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chương II: Thực trạng công tác quản lý kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam. Chương III: Những giải pháp tăng cường quản lý kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÔNG TÁC QUAN LÝ KE HOẠCH SAN XUẤT KINH DOANH CUA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, mục tiêu, bộ may quan lý, nội dung quan lý kế hoạch SXKD của doanh nghiệp và những yếu tố ảnh hưởng 1.
Khái niệm Kế hoạch là tập hợp những hoạt động, công việc được sắp xếp theo trình tự nhất định đề đạt được mục tiêu đã đề ra [19]. Vì vậy, kế hoạch SXKD của doanh nghiệp được hiểu là tập hợp những hoạt động, công việc liên quan đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp được sắp xếp theo trình tự nhất định dé đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Tập đoàn Vinashin có hoạt động sản xuất chính là đóng mới và sửa chữa tàu thủy theo các hợp đồng kinh tế đã ký dé ban giao cho các chủ tàu và khách hàng. Trong quá trình sản xuất, chủ tàu sẽ thanh toán tiền theo các mốc sản xuất chính và đợt thanh toán cuối cùng được thực hiện khi hoàn thiện và bàn giao tàu.
Do đó, kế hoạch sản xuất và kế hoạch kinh doanh tại Tập đoàn Vinashin có quan hệ rất khăng khít, hữu cơ và đi liền với nhau. Vì vậy, tác giả dé cập đến kế hoạch sản xuất kinh doanh của Tập đoàn theo hướng là chú trọng đến kế hoạch sản xuất là chủ yếu. Quản lý kế hoạch SXKD của doanh nghiệp được hiểu là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên kế hoạch SXKD nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ, cơ hội của doanh nghiệp dé đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện môi trường luôn biến động. Quản lý kế hoạch SXKD là công việc mang tính chất tất yếu của mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế sản xuất và kinh doanh hàng hóa.
Quản lý kế hoạch SXKD tốt sẽ đảm bảo thực hành tiết kiệm, giảm chi phí tạo điều kiện thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp đề ra. Cán bộ quản lý doanh nghiệp cần nhận thức đầy đủ vai trò, tính chất, yêu cầu của kế hoạch SXKD dé vận dụng trong quản lý và điều hành hoạt động của doanh nghiệp [13]. Mục tiêu Một là, giúp cho chủ thé quản lý và các bộ phận trong hệ thống quan ly nhận thức thống nhất về hướng đi, cách đi thích hợp dé nhanh chóng dat tới mục tiêu đề ra. Từ đó hoạt động của các cấp, các bộ phận, các tô chức tự giác, chủ động và thống nhất trong hành động thực tiễn.
Hai là, giúp cho các nhà quản lý chủ động thích ứng với những thay đổi trong quá trình phát triển của thực tiễn do có những dự đoán trước; làm giảm tính bat ôn định của doanh nghiệp hay tô chức; làm giảm sự chồng chéo và những hoạt động làm lãng phí nguồn lực của doanh nghiệp; chủ động tao ra những biến đổi có lợi cho quá trình phát triển và hướng các nhà quản lý tập trung vào những nhiệm vụ trọng yếu. Ba là, là căn ctr dé tổ chức bộ máy quản lý, kiểm tra và đánh giá hiệu quả của các hoạt động quản lý của doanh nghiệp ở các cấp, các địa phương và toàn ngành [4, Tr143]. Bộ máy quản lý Bộ máy quản lý kế hoạch SXKD là tập hợp các bộ phận, phân hệ với trách nhiệm và quyền hạn nhất định được phân công thực hiện các chức năng quản lý kế hoạch SXKD. Bộ máy quan lý kế hoạch SXKD bao gồm 3 yếu tổ cơ bản là : cơ cấu tổ chức quản lý kế hoạch SXKD, cán bộ quản lý kế hoạch và cơ chế hoạt động của bộ máy.
Trong đó: Cơ cấu tô chức quản lý kế hoạch SXKD là tong hợp các bộ phận (đơn vị và cá nhân) khác nhau, có môi quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hoá và có những trách nhiệm, quyền hạn nhất định được bố trí theo những 10 cấp, những khâu khác nhau nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý kế hoạch và phục vụ mục đích chung đã xác định của doanh nghiệp. Cán bộ quản lý kế hoạch SXKD là những người ra quyết định và chịu trách nhiệm về các quyết định quản lý kế hoạch SXKD của mình. Cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý kế hoạch SXKD: xác định nguyên tắc làm việc của bộ máy quản lý và các mối liên hệ cơ bản để đảm bảo sự phối hợp hoạt động của các bộ phận nhằm đạt được mục tiêu chung đề ra. Đối với doanh nghiệp, cơ cấu tô chức thường được xem xét dựa trên quan điểm chiến lược, gồm 5 loại hình cơ cấu tổ chức quản lý cơ bản như: Cơ câu đơn giản: là một loại hình cơ cấu đơn giản nhất.
Trong cơ cấu này thì các chức năng quản lý hầu hết tập trung vào một người quản lý doanh nghiệp. Hầu như không có sự chuyên môn hoá trong phân công lao động quản lý. Cơ cấu này có ưu điểm là gọn nhẹ, quyền lực tập trung vào số ít người (một người) và vì vậy các quyết định có thé được đưa ra và thực hiện nhanh chóng. Nhược điểm là do quyền lực, trách nhiệm tập trung vào một số ít người nên khả năng ra quyết định sai lầm là cao.
Khả năng ứng dụng loại hình cơ cấu này chỉ có thể áp dụng cho các doanh nghiệp rất nhỏ, tính chất kinh doanh đơn giản (doanh nghiệp tư nhân một chủ, kinh doanh đơn mặt hàng, các cửa hàng nhỏ. Cơ cau chức năng: được phân theo các chức năng quản lý một doanh nghiệp như quản lý nhân sự, quản lý Marketing, quản lý tài chính, sản xuất. tương ứng với các chức năng quản lý trên, bộ máy quản lý doanh nghiệp hình thành một loại hình cơ cấu có cấu trúc chức năng. Ưu điểm là phân chia các nhiệm vụ rất rõ ràng, thích hợp với những lĩnh vực cá nhân được dao tạo; công việc dễ giải thích, phần lớn các nhân viên đều dé dàng hiểu công việc của phòng ban mình và công việc của mình; Cơ cấu chức năng thực hiện chặt chẽ chế độ một thủ trưởng.
Nhược điểm là khó kiểm soát thị trường và có lãi hiện tượng quá tổng hợp nội dung hoạt động một chức năng. Khả năng áp dụng của cơ cấu này là những tổ chức hoạt động đơn lĩnh vực, đơn sản phẩm, đơn thị trường; phù hợp với các tổ chức vừa và nhỏ. Cơ cấu lĩnh vực: Co cau này phân nhóm các cá nhân và nguồn lực theo lĩnh vực hoạt động, sản phẩm hoặc thị trường. Ưu điểm là Cơ cau theo sát quá trình quản lý gắn cùng với các mục tiêu chiến lược và thực hiện chuyên môn hoá theo những yếu tô mà tô chức đặc biệt quan tâm.
Nhược điểm là Can trở quá trình tổng hợp các chức năng do đó giảm khả năng sử dụng các chuyên gia cho các hoạt động khác nhau. Khả năng áp dụng là các doanh nghiệp có quy mô lớn, hoạt động đa lĩnh vực, đa sản phẩm, đa thị trường. Thông thường cơ cau của những tổ chức doanh nghiệp này là cơ câu hỗn hợp của ba loại hình cơ cấu đơn vị trên. Cơ cấu ma trận: là một loại hình cơ cấu mà hai loại tập trung trên đều được coi là quan trọng trong cơ cấu tô chức.
Cơ cấu ma trận thường được sử dụng trong các dự án phát triển của các ngành công nghiệp lớn. Trong cơ cấu ma trận, bên cạnh các tuyến và các bộ phận chức năng, trong cơ cấu hình thành nên những chương trình hoặc dự án dé thực hiện những mục tiêu lớn, quan trọng, mang tính độc lập tương đối và cần tập trung nguồn lực. lãnh đạo chương trình, dự án có thể sử dụng những bộ phận, những phân hệ, những người trong tổ chức dé thực hiện chương trình, dự án theo quy chế chính thức. Ưu điểm là có độ linh hoạt cao, có khả năng tập trung nguồn lực vào các khâu xung yếu, sử dụng được các chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực khác nhau của tổ chức dé đi đến mục tiêu, có thé dé dàng phối hợp hoạt động.
Nhược điểm là khó phối hợp hoạt động của những người lãnh đạo chương trình, dự án và những người lãnh đạo trong các bộ phận, phân hệ khá; cơ cấu phức tạp, tốn kém, không bền. Khả năng áp dụng cơ cấu này khá rộng rãi trong thực tế và ở Việt Nam dang phát triển loại hình cơ cau này. 12 Cơ cau hỗn hợp là cơ cau sử dụng một hỗn hợp các hình thức cơ cấu với mong muốn phân chia con người và nguồn lực băng hai phương pháp cùng một lúc nhằm cân bằng các lợi thế và bất lợi của mỗi phương pháp. Cơ cấu này được sử dụng trong các tô chức kinh doanh lớn ở Việt Nam đặc biệt là các Tổng Công ty 90 và 91.
Như vậy, đối với mỗi loại hình cơ cấu đều có những ưu điểm và nhược điểm và việc hoàn thiện cơ cấu tô chức là một tất yếu khách quan [20]. Nội dung Nội dung quản lý kế hoạch SXKD của doanh nghiệp bao gồm quản lý công tác lập kế hoạch SXKD, công tác tổ chức thực hiện kế hoạch SXKD, công tác kiểm tra và giám sát thực hiện kế hoạch SXKD. a) Công tác lập kế hoạch SXKD Các căn cứ để lập kế hoạch SXKD của doanh nghiệp bao gồm: chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước; kết quả điều tra nghiên cứu thị trường: kết quả phân tích và dự báo về tình hình sản xuất kinh doanh, về khả năng nguồn lực có thé khai thác [20]. Ngoài ra, doanh nghiệp cần có phân tích, đánh giá các kinh nghiệm đã được đúc kết trong công tác lập kế hoạch; xem xét các khả năng ứng dụng các kỹ thuật công nghệ và kỹ thuật quản lý mới; kết quả nghiên cứu, ứng dụng các sáng kiến, cải tiến và các tiến bộ khoa học - kỹ thuật; kết quả, kinh nghiệm của các phong trao thi đua khen thưởng [13, Tr15-16].
Các bước lập kế hoạch SXKD của doanh nghiệp bao gồm: Bước ï, Nhận thức cơ hội: Doanh nghiệp tiến hành nghiên cứu và dự báo về môi trường, thi trường, về sự cạnh tranh, về điểm mạnh và điểm yếu của mình so với các đối thủ cạnh tranh khác. Từ đó dự đoán trước các yếu tố không chắc chắn có thể xảy ra để đưa ra phương án đối phó thích hợp.