Luận văn Thạc sĩ: quản lý hoạt động trải nghiệm ở trường thcs huyện lệ

Nghiên cứu chuyên sâu Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động trải nghiệm ở trường thcs huyện lệ thủy tỉnh , phương pháp luận hiện đại, kết quả ứng dụng

Trường đại học

Trường Đại học Vinh

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

137
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của quản lý hoạt động trải nghiệm

Quản lý hoạt động trải nghiệm ở trường trung học cơ sở là quá trình tổ chức, điều hành và giám sát các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm phát triển toàn diện cho học sinh. Đây là một thành phần quan trọng của chương trình giáo dục hiện đại, giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức lý thuyết mà còn phát triển kỹ năng thực tiễn, rèn luyện phẩm chất đạo đức và sáng tạo. Công tác quản lý hoạt động trải nghiệm đòi hỏi các nhà quản lý giáo dục phải có tầm nhìn chiến lược, kế hoạch chu đáo và sự phối hợp hiệu quả giữa các bên liên quan. Sự thành công của hoạt động này phụ thuộc vào vai trò của hiệu trưởng, đội ngũ giáo viên, sự hỗ trợ từ phụ huynh và cơ sở vật chất của nhà trường.

1.1. Định nghĩa hoạt động trải nghiệm

Hoạt động trải nghiệm là những hoạt động học tập thực tiễn, được thực hiện ngoài môi trường lớp học thông thường, giúp học sinh tiếp xúc trực tiếp với thực tế xã hội, tự nhiên và văn hóa. Các hoạt động này bao gồm lao động - hướng nghiệp, hoạt động sáng tạo, tham quan học tập và các chương trình giáo dục ngoài giờ lên lớp khác. Qua các hoạt động này, học sinh có cơ hội phát triển kỹ năng sống, kỹ năng xã hội và tăng cường khả năng tư duy sáng tạo.

1.2. Vai trò của hiệu trưởng trong quản lý

Hiệu trưởng đóng vai trò trung tâm trong quản lý hoạt động trải nghiệm của nhà trường. Thầy/cô có trách nhiệm lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực, hướng dẫn đội ngũ giáo viên và giám sát quá trình thực hiện. Sự lãnh đạo hiệu quả của hiệu trưởng sẽ tạo động lực cho toàn bộ cộng đồng nhà trường tham gia vào các hoạt động trải nghiệm một cách tích cực và hiệu quả.

II. Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm tại các trường THCS

Tại các trường trung học cơ sở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, quản lý hoạt động trải nghiệm vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Nghiên cứu cho thấy mặc dù các trường nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, nhưng trong thực tiễn, công tác tổ chức và quản lý vẫn chưa đạt hiệu quả cao. Nguyên nhân chủ yếu bao gồm: thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp, nhân lực đủ năng lực quản lý, và sự thiếu sót trong lập kế hoạch chi tiết cho các hoạt động. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa nhà trường, phụ huynh và cộng đồng địa phương trong quản lý các hoạt động vẫn còn chưa thật nhịp nhàng.

2.1. Tình hình cơ sở vật chất và trang thiết bị

Hầu hết các trường THCS huyện Lệ Thủy đều gặp khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị để phục vụ hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Nhiều trường thiếu sân chơi, nhà xưởng, phòng kỹ năng và các trang thiết bị hiện đại. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và khả năng tham gia của học sinh vào các hoạt động lao động - hướng nghiệp.

2.2. Nhận thức và tham gia của các bên liên quan

Mặc dù phụ huynh và giáo viên nhận thức được sự cần thiết của hoạt động trải nghiệm, nhưng mức độ tham gia và hỗ trợ vẫn chưa đủ. Nhiều gia đình lo lắng về chất lượng và an toàn của các hoạt động, dẫn đến tỷ lệ học sinh tham gia không cao. Đồng thời, các giáo viên chưa được đào tạo đầy đủ về kỹ năng tổ chức và quản lý hoạt động trải nghiệm.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động trải nghiệm

Để quản lý hoạt động trải nghiệm hiệu quả, cần phải xem xét nhiều yếu tố ảnh hưởng. Các yếu tố này bao gồm: điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, chính sách và qui định từ các cấp chính quyền, năng lực của đội ngũ quản lý, sự tham gia của cộng đồng địa phương, và mức độ nhận thức của phụ huynh học sinh. Trong bối cảnh huyện Lệ Thủy là vùng kinh tế khó khăn, các yếu tố này càng trở nên quan trọng. Sự tác động qua lại giữa các yếu tố này sẽ quyết định mức độ thành công của công tác quản lý hoạt động trải nghiệm tại các trường THCS. Do đó, cần có giải pháp toàn diện để cải thiện từng yếu tố này.

3.1. Yếu tố kinh tế xã hội và chính sách giáo dục

Điều kiện kinh tế của huyện Lệ Thủy ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động trải nghiệm. Chính sách giáo dục quốc gia cũng đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng quản lý hoạt động trải nghiệm tại các trường. Các qui định về chương trình hoạt động trải nghiệm cần được các trường tuân thủ nghiêm chỉnh.

3.2. Năng lực đội ngũ quản lý và giáo viên

Năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và các giáo viên chủ nhiệm là yếu tố quan trọng quyết định thành công của quản lý hoạt động trải nghiệm. Cần đầu tư đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ này về quản lý hoạt động trải nghiệm sáng tạo, lập kế hoạch, tổ chức và đánh giá hiệu quả hoạt động.

IV. Giải pháp và kiến nghị cải thiện quản lý hoạt động trải nghiệm

Để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động trải nghiệm tại các trường THCS, cần có các biện pháp toàn diện từ các cấp chính quyền, sở giáo dục đến nhà trường. Trước hết, cần có đầu tư về cơ sở vật chất và trang thiết bị để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Thứ hai, phải nâng cao năng lực quản lý thông qua đào tạo, bồi dưỡng cho các cán bộ quản lý giáo dục. Thứ ba, cần tăng cường sự tham gia của phụ huynh, cộng đồng địa phương và các tổ chức xã hội trong quản lý hoạt động trải nghiệm. Cuối cùng, phải hoàn thiện chế độ đánh giá, kiểm tra hoạt động trải nghiệm để đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện.

4.1. Kiến nghị đối với các cấp chính quyền và sở giáo dục

Bộ Giáo dục & Đào tạoSở Giáo dục & Đào tạo Quảng Bình cần xây dựng chính sách hỗ trợ các trường THCS trong quản lý hoạt động trải nghiệm. Cần cấp vốn đầu tư cho cơ sở vật chất, tổ chức các khóa bồi dưỡng cho cán bộ quản lý, và hướng dẫn chi tiết về lập kế hoạch, tổ chức các hoạt động. Đồng thời, cần ban hành các qui định rõ ràng về chất lượng, an toàn trong hoạt động trải nghiệm để phụ huynh yên tâm.

4.2. Kiến nghị đối với các trường THCS

Các trường THCS cần lập kế hoạch chi tiết, cụ thể cho quản lý hoạt động trải nghiệm hằng năm. Phải phân công rõ trách nhiệm cho từng cán bộ, giáo viên, tăng cường tuyên truyền, vận động phụ huynh và học sinh tham gia. Cần tổ chức đánh giá định kỳ về hiệu quả hoạt động trải nghiệmliên tục cải tiến để nâng cao chất lượng hoạt động.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Hoa ̣t đô ̣ng trải nghiệm là mô ̣t thuâ ̣t ngữ đươ ̣c hiể u khá rô ̣ng trong khoa ho ̣c giáo du ̣c. Nó đươ ̣c xuấ t phát từ cơ sở khoa ho ̣c của Tâm lí ho ̣c hoa ̣t đô ̣ng và Giáo du ̣c ho ̣c. Ở các nước khác nhau Hoa ̣t đô ̣ng trải nghiệm (Hoạt động giáo dục theo nghĩa hẹp) có những tên go ̣i và cách thức tổ chức khác nhau như “Hoa ̣t đô ̣ng giáo du ̣c ngoài giờ lên lớp”, “hoa ̣t đô ̣ng ngoa ̣i khóa”, “hoa ̣t đô ̣ng giáo du ̣c bên ngoài lớp ho ̣c”, “hoa ̣t đô ̣ng tâ ̣p thể ”, “hoa ̣t đô ̣ng trải nghiêm ̣ sáng tạo”, “hoạt động song song với học tập” hay “chương trình hoạt động”,… Có thể nói tư tưởng giáo dục về học qua trải nghiệm đã xuất hiện từ khá sớm, và được dần dần phát triển bởi các nhà giáo dục trên thế giới, và được nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới coi như triết lý giáo dục của quốc gia.

Chính vì vậy, HĐTN là một phần quan trọng không thể thiếu trong chương trình giáo dục ở các nước trên thế giới. Những tư tưởng và công trình nghiên cứu trong, ngoài nước về hoạt động trải nghiệm như : Theo Dewey, kinh nghiệm là một thể thống nhất liên tục tác động lẫn nhau giữa thể hữu cơ và môi trường. Trong thể thống nhất liên tục này, kinh nghiệm và tự nhiên, con người và môi trường chủ thể của nhận thức và khách thể được nhận thức là hai mặt của một quá trình. Chúng tác động lẫn nhau, có mối liên hệ với nhau, thậm chí kết hợp làm một.

Điều này về thực chất là đã hoà tan kinh nghiệm trong kinh nghiệm, phủ định căn bản tính độc lập, tồn tại bên ngoài kinh nghiệm của thế giới khách quan. Theo ông, kinh nghiêm cá nhân bao gồm hai nhân tố : “Hoạt động trải nghiệm” và “Kết quả thu được qua trải nghiệm”. Hai nhân tố này kết hợp với nhau theo một hình thức đặc biệt, trở thành kinh nghiệm của các nhân. Ông giải thích, “Một đứa trẻ đưa ngón tay vào 7 lửa, đó chưa phải là kinh nghiệm; khi hành động đó gắn với nỗi đau mà đứa trẻ phải chịu đựng thì đó mới là kinh nghiệm.

Từ đó trở đi, đứa trẻ biết rằng đưa ngón tay vào lửa có nghĩa là bị bỏng”. Từ đó, Dewey đưa ra quan điểm giáo dục và quan điểm chương trình theo chủ nghĩa thực dụng. Ông cho rằng “Mọi sự học tập đều bắt đầu từ kinh nghiệm”, “Giáo dục là một quá trình phát triển trong kinh nghiệm, do kinh nghiệm và vì kinh nghiệm”. Bởi vậy, ông cho rằng: “Giáo dục tức là cuộc sống”, “Giáo dục là sinh trưởng”, “Giáo dục là sự tiếp tục không ngừng cải tổ hoặc cải tạo kinh nghiệm”.

Năm 1984, giáo sư David Kolb, người Mĩ, đã công bố công trình nghiên cứu của mình về học tập dựa vào trải nghiệm. Ông nhấn mạnh sự quan tâm tới quá trình nhận thức bên trong của người học. Theo đó ông cho rằng “Học tập là quá trình mà kiến thức được tạo ra thông qua việc chuyển đổi kinh nghiệm. Kết quả của kiến thức là sự kết hợp giữa nắm bắt kinh nghiệm và chuyển đổi nó”.

Cũng theo Kolb thì học tập nên hình thành một cách tốt nhất khi nó được coi là một quá trình, thay vì chỉ quan tâm đến kết quả. Đó là một quá trình liên tục dựa trên những trải nghiệm. Ông đã xây dựng mô hình học tập qua trải nghiệm gồm 4 giai đoạn như sau: Giai đoạn 1: Khởi động bằng một kinh nghiệm cụ thể. Giai đoạn 2: Quan sát và phản hồi Giai đoạn 3: Hình thành khái niệm trừu tượng Giai đoạn 4: Thử nghiệm chủ động Với mô hình này, Kolb cho rằng trình tự của việc học phản ánh rằng người học có tiến hành hoạt động học tập dựa vào trải nghiệm không.

Muốn học tập dựa vào trải nghiệm thì người học nhất thiết phải huy động những kinh nghiệm vốn có của cá nhân, rồi chiêm nghiệm, phản hồi trên các kinh nghiệm của mình (tức là giai đoạn quan sát và phản hồi) để từ đó khái quát hóa và công 8 thức hóa khái niệm để có thể áp dụng trong những tình huống mới có thể xuất hiện trong thực tế; sau đó các khái niệm này được áp dụng và kiểm nghiệm trong thực tế để thấy được sự đúng - sai, hữu dụng - vô ích, … theo đó lại xuất hiện một kinh nghiệm mới, và chúng lại trở thành đầu vào trong vòng học tập tiếp theo, cứ thế lặp đi lặp lại cho tới khi nào việc học đạt được mục tiêu đề ra ban đầu [21]. Theo David Kolb, để kinh nghiệm học tập được chính xác, người học cần có một số điều kiện như sau: - Người học phải sẵn sàng tham gia trải nghiệm tích cực; - Người học phải có khả năng suy nghi ̃ về những gì trải nghiệm; - Người học phải có và sử dụng kỹ năng phân tích để khái quát hoá các kinh nghiệm có được; - Người học phải ra quyết định và có kỹ năng giải quyết vấn đề để sử dụng những ý tưởng mới thu được từ trải nghiệm. Dựa trên lý thuyết về mô hình học tập dựa vào trải nghiệm của David Kolb, các tác giả về sau đã vận dụng vào trong việc tổ chức cho học sinh học tập dựa vào trải nghiệm. Bài viết “Ảnh hưởng của HĐTN với hoạt động học tập của giáo sinh”, tác giả Jing Wang và Jonathan Shiveley, Đại học California, Mỹ đã đưa ra những kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò của HĐTN đối với hoạt động học tập của học sinh.

Theo đó “sinh viên đạt được tỷ lệ cao hơn rất nhiều trong việc học ở lớp và tốt nghiệp, duy trì điểm trung bình tốt hơn, và hình thành những năng lực tốt khi họ tham gia vào bất kỳ hoạt động trong phạm vi nghiên cứu ” Năm 1996 thì Bisson và Luckner còn khẳng định được là trong và sau quá trình trải nghiệm, người học cảm thấy thoả mái và thích thú hơn bởi vì chính sự trải nghiệm thực tế đã kích thích sự tò mò và hứng thú của người học, làm tăng 9 cảm xúc nội tâm, giảm stress và sự căng thẳng khi học, giảm rào cản xã hội giữa các cá nhân, đặc biệt là giảm sự ganh đua trong quá trình học giữa các học sinh giỏi và học sinh yếu, mọi thành viên đều được coi trọng và tôn trọng như nhau trong quá trình trải nghiệm, bởi sự trải nghiệm không có sự cứng nhắc theo khuôn mẫu hoặc sách vở mà người học phải thuộc, các hoạt động trải nghiệm chấp nhận sự khác biệt và sự rủi ro cho những câu trả lời, cũng như chấp nhận sự thử sai khi thực hiện hành động. Nhìn chung, “Học tập trải nghiệm” là một lý thuyết học tập được thế giới rất coi trọng bởi nó đề cao việc hình thành năng lực của con người thông qua những trải nghiệm thực tiễn, điều đó hoàn toàn phù hợp với các quy luật về tâm lý trong việc hình thành phát triển nhân cách cho học sinh. Ở Việt Nam, có thể nói Hoạt động trải nghiệm là một khái niệm mới xuất hiện trong khoảng 3, 4 năm trở lại đây, tuy nhiên nội hàm của khái niệm này, với tư cách là hoạt động giáo dục theo nghĩa hẹp và với tên gọi là Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (trong Chương trình Giáo dục phổ thông hiện hành) thì đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước đề cập tới, tiêu biểu là các tác giả: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Hà Nhật Thăng, Nguyễn Dục Quang, Lê Thanh Sử, Đinh Thị Kim Thoa, Nguyễn Thị Liên… Theo các tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt thì: quá trình giáo dục nhất thiết phải bao gồm việc lĩnh hội tri thức kinh nghiệm và phát triển năng lực nhận thức, và phải được tiến hành một phần quan trọng ngay trong các bài học trên lớp cũng như trong các hoạt động khác của học sinh ngoài trường, ngoài giờ lên lớp. Các tác giả cũng đã nêu lên nguyên tắc về tính toàn vẹn của quá trình giáo dục, trong đó phải đảm bảo sự thống nhất của quá trình giáo dục trên lớp và giáo dục ngoài lớp, ngoài trường …[18] 10 Với tên gọi là Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp các tác giả nghiên cứu về hoạt động này đã đưa ra những quan niệm của mình như sau: Theo giáo sư Đặng Vũ Hoạt, “HĐGDNGLL là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hoá nghệ thuật, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi … để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách” [18] Trong chương trình Trung học cơ sở về HĐGD NGLL hiện hành, các tác giả đã đưa ra khái niệm: "HĐGD NGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học ở trên lớp.

HĐGD NGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy - học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết và thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của học sinh". [2] ̀ h “Giáo dục học – Một số vấ n đề lý luận và thực tiễn”, Trong công trin GS Hà Thế Ngữ đã khẳ ng đinh ̣ “Mô ̣t nề n giáo du ̣c gắ n chă ̣t với cuô ̣c số ng của con người, của nhân dân lao đô ̣ng, gắ n chă ̣t với thực tiễn xã hô ̣i, nhấ t đinh ̣ phải bao gồ m toàn thể các hoạt động số ng thực của người học. Chỉ có điề u là những hoa ̣t đô ̣ng đó không còn mang tiń h chấ t tự nhiên sơ khai nữa, mà đươ ̣c sự tổ chức và lañ h đa ̣o của nhà giáo du ̣c, hay nói cách khác, là những hoạt động giáo dục”. Theo GS Hà Thế Ngữ những hoa ̣t đô ̣ng giáo du ̣c cơ bản gồm: vui chơi, ho ̣c tâ ̣p, lao đô ̣ng sản xuấ t, hoa ̣t đô ̣ng xã hô ̣i, và sinh hoa ̣t tâ ̣p thể (giao lưu).

[20] Trong các nghiên cứu về HĐTN trong 2 năm trở lại đây, một số tác giả cũng đã đưa ra những quan niệm của mình về HĐTN. Theo Đinh Thị Kim Thoa (2015) hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục thông qua sự trải nghiệm và sáng tạo của cá nhân trong việc kết nối kinh nghiệm học được trong nhà trường với thực tiễn đời sống mà nhờ đó các kinh nghiệm được tích luỹ thêm và dần chuyển hoá thành năng lực [50].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ