Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HOÁ ỨNG XỬ CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Theo quan điểm của Các Mác, văn hóa gắn liền với sức sáng tạo và năng lực bản chất của con người. Sự sáng tạo đó bao giờ cũng bắt đầu từ lao động.
Thuật ngữ văn hóa trường học bắt đầu xuất hiện tại các nước nói tiếng anh từ những năm 1990. Một số nước: Mỹ, Úc… đã có trung tâm nghiên cứu, khảo sát thực tiễn và đánh giá vấn đề này. Nghiên cứu của GS Peter Smith, Đại học Sunderlans (Anh) cho thấy văn hóa học đường ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với chất lượng và hiệu quả hoạt động của một nhà trường. Các lý do cần phải nuôi dưỡng vun trổng văn hóa học đường tích cực, lành mạnh có thể tóm tắt như sau: - Sự phát triển của học sinh chịu ảnh hưởng rất lớn từ môi trường văn hóa - xã hội mà họ lớn lên.
- Văn hóa học đường lành mạnh giảm bớt sự không hài lòng của giáo viên và giúp giảm thiểu hành vi cử chỉ không lịch sự của học sinh. - Văn hóa học đường tạo ra môi trường thuận lợi hỗ trợ việc dạy và học, khuyến khích giáo viên và học sinh nỗ lực trong rèn luyện, học tập đạt mục đích mong đợi… Trong các thập niên 60 - 80 của Thế kỷ XX, tại Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu vấn đề văn hoá, VHƯX bắt đầu được các tác giả quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên cách nghiên cứu tiếp cận VHƯX tương đồng với lối sống. Từ thập niên 70, các tác giả U.Đôrôkhôp,… đã công bố các tài liệu liên quan đến lí luận về giáo dục văn hóa hành vi nói chung và giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa nói riêng cho HS. Trong các tác phẩm của mình, các tác giả đã chứng minh sự cần thiết phải giáo dục hành vi văn hóa cho HS, nhất là HS nhỏ tuổi.
5 Các nhà tâm lý học và giáo dục học của Liên Xô như L.Makarenco,… đã nghiên cứu về lý luận khoa học của hành vi và giáo dục hành vi đạo đức nói chung, hành vi giao tiếp có văn hóa cho HS nói riêng trong nhà trường như là cơ sở để hình thành phẩm chất đạo đức, nhân cách của người công dân.Piaget trong công trình nghiên cứu về giáo dục văn hóa đạo đức cho trẻ em đã khẳng định: Cần chú trọng giáo dục văn hóa đạo đức cho trẻ để giúp trẻ nắm được các qui tắc ứng xử. Trong những năm 1977 - 1978, Trung tâm nghiên cứu khoa học về thanh niên ở Bungari nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức cho thanh niên trong đó đề cập đến vấn đề GDVHƯX, định hướng lối sống của thanh niên. Năm 2012, báo cáo nghiên cứu mã số DFE-RR218 của Bộ Giáo dục Anh nghiên cứu về ứng xử của HS trong các trường học ở Anh quốc nhằm xem xét về bản chất và tiêu chuẩn của hành vi trong trường học tiếng Anh; tác động của ứng xử tiêu cực trên HS và GV; những điều mà nhà trường và GV có thể làm để phát huy tốt hành vi ứng xử của HS. Nghiên cứu của các nhà khoa học đã chỉ ra rằng có một mối liên hệ tích cực giữa bầu không khí lớp học (niềm tin, giá trị, thái độ) và ứng xử của HS.
Một bầu không khí ứng xử nghèo nàn/không tốt sẽ dẫn tới những ứng xử xã hội xấu xí. Từ kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học cũng nhận định: Việc ứng xử tốt sẽ mang lại hiệu quả làm việc cho đội ngũ lãnh đạo nhà trường. Ngoài ra, sự phối hợp của cha mẹ HS với nhà trường cũng mang đến những kết quả tích cực cho hành vi ứng xử của HS. Ở Việt Nam Vấn đề xây dựng, phát triển văn hóa nói chung và văn hóa ứng xử học đường là nội dung được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu quan tâm.
Tại hội thảo khoa học với chủ đề: “Giáo dục văn hóa giao tiếp trong nhà trường” tổ chức ở trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Lê Ngọc Trà đã khẳng định giao tiếp có quan hệ chặt chẽ với giáo dục văn hóa ứng xử và vai trò của nhà trường rất quan trọng. 6 Theo tác giả Phạm Kim Anh trong bài viết Văn hóa học đường - Một góc nhìn từ thực tiễn đăng trên tạp chí Dạy và học ngày nay số 10-2007 có một cách nhìn, cách tiếp cận độc đáo về văn hóa học đường. Theo tác giả, Văn hóa học đường bao gồm 4 yếu tố cụ thể: văn hóa ứng xử, văn hóa dạy, văn hóa học, văn hóa thi cử. Với quan điểm kỹ năng ứng xử, giao tiếp, sống có trách nhiệm cần được đưa vào giáo dục cho học sinh ngay từ nhỏ, và sự ảnh hưởng, hướng dẫn dạy dỗ cho các em tích cực nhất là chính từ nhà trường và gia đình.
Và để đạt được mục tiêu về giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh, Trường Tiểu học Núi Thành (Quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng) đã triển khai mô hình “6T”: Trí tuệ - Tận tâm - Thân thiện. Mô hình 6T của trường tiểu học Núi Thành là cụ thể hóa của phong trào: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" và Phong trào “Trường học thân thiện - Học sinh tích cực”. Hay theo Tạp chí Tuyên giáo tháng 11-2009, nhà nghiên cứu Phạm Minh Hạc cho rằng văn hóa học đường Việt Nam cần đảm bảo 3 yếu tố: cơ sở vật chất đảm bảo, môi trường giáo dục tốt và văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử chuẩn mực (Tạp chí Tuyên giáo, 11-2009, tr.
Tác giả Phạm Ngọc Trung với công trình Văn hóa học đường, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2011. Tác giả Nguyễn Thanh Tuấn, Văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay, 2008. Tác giả Trần Ngọc Thêm với công trình Cơ sở Văn hóa Việt Nam. Tác giả Thanh Lê trong cuốn “Văn hoá và lối sống” đã đề cập gián tiếp văn hoá ứng xử bằng hai mục ở hai chương.
Đó là những điều bàn về lối sống, nếp sống, mức sống của người Việt Nam. Từ đó tác giả nêu lên giá trị của văn hoá đối với lối sống hiện nay là ủng hộ cái đẹp, phê phán cái xấu, hướng tới chân - thiện - mỹ. Trong tác phẩm “Cơ sở văn hoá Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm đã xem xét văn hoá khởi đầu từ các điều kiện vật chất quy định và định vị văn hoá Việt Nam, qua đó nhận thức được cái tinh thần là văn hóa nhận thức và văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng, để rồi cái tinh thần đó lại tác động trở lại đời sống 7 vật chất hình thành nên cách thức ứng xử giao lưu với môi trường tự nhiên và xã hội [43]. Trong tác phẩm “Văn hoá ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên”(do tác giả Nguyễn Viết Chức chủ biên), các tác giả tập trung làm rõ mối quan hệ giữa môi trường thiên nhiên và văn hoá ứng xử đối với môi trường thiên nhiên và người Hà Nội từ truyền thống đến hiện đại.
Trước thách thức của toàn cầu hoá, trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa, các tác giả đã đề xuất một số phương hướng, quan điểm, giải pháp và điều kiện xây dựng văn hoá ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên. Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu của một số tác giả, có thể rút ra một số nhận xét, đánh giá sau: - Nghiên cứu về giáo dục văn hóa ứng xử được triển khai ở nhiều bình diện khác nhau và đặc biệt quan tâm trên bình diện quản lý giáo dục. - Các nghiên cứu về giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh được tập trung vào hai mảng chính: Nghiên cứu giáo dục văn hóa ứng xử theo cấp bậc, ngành học; nghiên cứu giáo dục văn hóa ứng xử cho từng cơ sở giáo dục thuộc bậc học, cấp học và ngành học… Trong giáo dục phát triển toàn diện học sinh, thì công tác giáo dục văn hóa ứng xử luôn luôn đóng một vai trò quan trọng đến chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục. Để có thế hệ học sinh phát triển toàn diện, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước thì vấn đề giáo dục văn hóa ứng xử là hết sức quan trọng và cần thiết.
Có thể thấy, có nhiều tác giả đã đề cập đến công tác giáo dục văn hóa ứng xử. Song các công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên chưa mang tính đặc thù ở từng địa phương, từng bậc học nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của giáo dục học sinh địa phương, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số các trường tiểu học. Vì vậy nghiên cứu đề tài này là hết sức cần thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của các trường tiểu học trên địa bàn huyện miền núi trong giai đoạn hiện nay. Một số khái niệm công cụ của đề tài 1.
Quản lý Quản lý xuất hiện khi con người hình thành hoạt động nhóm. Qua lao động, để duy trì sự sống đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các cá nhân con người. hoạt động quản lý là một hiện tượng tất yếu phát triển cùng sự phát triển của xã hội loài người nhằm đoàn kết nhau lại tạo lên sức mạnh tập thể, thống nhất thực hiện một mục đích chung. Trong thực tiễn, thuật ngữ “quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) gồm 2 quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế phát triển.
Các Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động của cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [5, tr. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [19].