Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh 1. Hoạt động dạy học Nhiều nhà khoa học đã tiếp cận khái niệm hoạt động dạy học từ cơ sở lí luận của quá trình giáo dục tổng thể. Mặt khác, xét quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của hoạt động, một số tác giả đã luận giải về nội hàm khái niệm hoạt động dạy học từ những góc độ khoa học khác nhau như: giáo dục học, tâm lý học, điều khiển học.
dưới đây: Tiếp cận dạy học từ góc độ giáo dục học “Dạy học - một trong các bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn- là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, để trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng phẩm chất nhân cách người học theo mục đích giáo dục” [36, tr. Theo tác giả Hà Thế Ngữ: “Dạy học là một hệ thống những tác động qua lại lẫn nhau giữa nhiều nhân tố nhằm mục đích trang bị kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo tương ứng và rèn luyện đạo đức cho người công dân. Chính những nhân tố hợp thành hoạt động này cùng với các tác động qua lại lẫn nhau giữa chũng đã làm cho dạy học thực sự tồn tại như một thực thể toàn vẹn một hệ thống. Theo tác giả Đặng Huỳnh Mai: “Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội những tri thức khoa học, những kĩ năng, kĩ xảo 12 hoạt động nhận thức và thực tiễn, trên cơ sở đó phát triển năng lực tư duy và hình thành thế giới quan khoa học.
Trong hoạt động dạy học, thầy giáo là người lãnh đạo, tổ chức, định hướng các hoạt động nhận thức của học sinh, giúp học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện ra kiến thức của bài học, từ đó hình thành kĩ năng vận dụng trong thực tế, hình thành năng lực bản thân. Để đạt được mục tiêu đó thì phương pháp dạy học cần “ Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.22] Hoạt động học của học sinh là tham gia tích cực, chủ động, tự giác điều khiển hoạt động nhận thức của mình nhằm thu thập, xử lí và phân tích các thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, người học làm phong phú giá trị bản thân. Trong nhà trường, hoạt động dạy học được xác định là hoạt động giáo dục thực hiện theo quy định pháp lí và hành chính, theo mục tiêu, chương trình giáo dục, được kiểm tra đánh giá của các cấp quản lí. Quá trình dạy học được thực hiện thông qua các yếu tố giáo viên, học sinh, mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, kết quả dạy học.
Hoạt động dạy và hoạt động học là hai hoạt động diễn ra trong thời gian và không gian cụ thể. Hai hoạt động này gắn bó chặt chẽ, qua lại và thúc đẩy nhau phát triển. Như vậy, hoạt động dạy học gồm hai hoạt động, đó là hoạt động dạy và hoạt động học. Hai hoạt động thống nhất với nhau, tồn tại cùng nhau trong những điều kiện nhất định để thực hiện mục tiêu quá trình dạy học một cách hiệu quả nhất.
Tiếp cận từ góc độ tâm lí học: “Dạy học được hiểu là sự biến đổi hợp lí hoạt động và hành vi của người học” [14, tr18]. 13 Tiếp cận dạy học từ góc độ điều khiển học “Dạy học là quá trình cộng tác giữa thầy và trò nhằm truyền đạt và tự điều khiển- lĩnh hội tri thức nhân loại nhằm thực hiện mục đích giáo dục” [20, tr.51] Hoạt động dạy của giáo viên: lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của học sinh, giúp học sinh tìm tòi khám phá tri thức, qua đó thực hiện có hiệu quả chức năng học của bản thân, giúp học sinh nắm được kiến thức hình thành kĩ năng, thái độ. Hoạt động học của học sinh: là tự giác, tích cực, chủ động, tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của mình nhằm thu nhận, xử lí và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó người học sinh thể hiện mình, biến đổi mình, tự làm phong phú những giá trị tri thức của mình. Hoạt động dạy và học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tồn tại song song và phát triển trong cùng một thống nhất kết quả hoạt động dạy của giáo viên và ngược lại.
Năng lực Theo từ điển Tiếng Việt: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó [39]. Hoặc: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định. Năng lực chung là năng lực cơ bản cần thiết mà bất cứ người nào cũng cần phải có để sống và học tập, làm việc. Năng lực đặc thù thể hiện trên từng lĩnh vực khác nhau như năng lực đặc thù môn học là năng lực được hình thành và phát triển do đặc điểm của môn học đó tạo nên.
Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống. Như vậy khi xem xét, đánh giá năng lực của người học là xem xét khả năng giải quyết một nhiệm vụ trong thực tiễn. Năng lực chỉ tồn tại trong quá 14 trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể. Vì vậy năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hành động.
* Các thành tố cấu trúc của năng lực: Có nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc năng lực, tuy nhiên có thể xác định cấu trúc của năng lực bao gồm các thành tố sau: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể. Các thành phần năng lực “gặp” nhau tạo thành năng lực hành động. Trong đó: Năng lực chuyên môn: là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như đánh giá kết quả một cách độc lập, có phương pháp, chính xác về chuyên môn. Năng lực phương pháp: là khả năng hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề.
Trung tâm của năng lực phương pháp là phương thức nhận thức, xử lí, đánh giá, truyền thụ và giới thiệu. Năng lực xã hội: là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau với sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Trọng tâm là: + Ý thức được trách nhiệm của bản thân cũng như của những người khác, tự chịu trách nhiệm, tự tổ chức. + Có khả năng thực hiện các hành động xã hội, khả năng cộng tác và giải quyết xung đột.
Năng lực cá thể: Khả năng xác định, suy nghĩ và đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như giới hạn của mình, phát triển được năng khiếu cá nhân cũng như xây dựng kế hoạch cho cuộc sống riêng và hiện thực hóa kế 15 hoạch đó; Những quan điểm chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các hành vi ứng xử. * Năng lực cốt lõi cần hình thành cho học sinh tiểu học: Năng lực cốt lõi hay còn gọi là năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc. Tất cả các hoạt động giáo dục (bao gồm các hoạt động giáo dục và hoạt động trải nghiệm) với khả năng khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực cốt lõi của học sinh. Các năng lực chung: Năng lực tự chủ, năng lực hợp tác, năng lực sáng tạo.
Các năng lực đặc thù: năng lực giao tiếp, năng lực tính toán, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất. Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ… phù hợp với bậc học, lứa tuổi và biết vận hành, kết nối các hệ thống này một cách hợp lí để thực hiện thành công nhiệm vụ học tập và giải quyết hiệu quả những tình huống, vấn đề của thực tiễn cuộc sống của chính các em. Cần chú ý ba đặc điểm thiết yếu khi hình thành và phát triển năng lực choc học sinh trong các hoạt động giáo dục và dạy học: Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ GD&ĐT thì: “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống.6] Trong luận văn này, chúng tôi đồng quan điểm với các tác giả của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực Từ khái niệm hoạt động dạy học và khái niệm năng lực chúng tôi quan niệm: “Hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực là việc tổ chức 16 các hoạt động dạy học theo yêu cầu của sản phẩm đầu ra. Nhưng sản phẩm đó không chỉ là kiến thức, kĩ năng, mà chủ yếu là khả năng học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ đã có để thực hiện nhiệm vụ học tập đạt tới một chuẩn được yêu cầu nào đó, gắn học lí thuyết với thực hành và có khả năng giải quyết tình huống trong cuộc sống hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học 1. Mục tiêu dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học Mục tiêu dạy học là yêu cầu đặt ra cho học sinh sau bài học cụ thể, các em phải biết gì về kiến thức và làm được gì (yêu cầu về kiến thức, kĩ năng), cũng như về thái độ tình cảm cần đạt được.