Chương 1 : Cơ sở lý luận quản lý giáo dục năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh ở trường THCS Chương 2 : Thực trạng quản lý giáo dục năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh THCS huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên Chương 3: Các biện pháp quản lý giáo dục năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh ở các trường THCS huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC NĂNG LỰC GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG THCS 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Có hai xu hướng chính: Hướng nghiên cứu k năng trên cơ sở tâm lý học hoạt động. Đại diện cho xu hướng này là các nhà tâm lý học Xô viết.
Tuy các công trình nghiên cứu đề cập đến những vấn đề khác nhau, nhưng chúng tôi nhận thấy, các quan điểm của các tác giả Xô viết không trái ngược nhau mà chúng bổ sung cho nhau. Hướng thứ hai nghiên cứu k năng trên cơ sở của tâm lý học hành vi. Đại diện của xu hướng này là các tác giả như J.Johnson & Holubec (1994): “Giao tiếp và hợp tác là toàn bộ những hoạt động mà học sinh thực hiện cùng nhau trong các nhóm, trong hoặc ngoài phạm vi lớp học. Có 5 đặc điểm quan trọng nhất mà mỗi một giờ học giao tiếp và hợp tác phải đảm bảo được: Sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực; ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân; sự tác động tương hỗ; Các năng lực xã hội; đánh giá trong các nhóm” [36].
Ronan Van Rosem (2002), nghiên cứu trên 1241 trẻ từ 6-7 tuổi ở 71 lớp của 49 trường về những khác biệt trong sự thích ứng trường học và thích ứng học tập của HS. Kết quả cho thấy: các đặc điểm của lớp học và cấu trúc xã hội của lớp như sự hòa nhập và cởi mở là các yếu tố tạo nên sự khác biệt trên. Như vậy k năng hợp tác của trẻ ảnh hưởng đến việc khó khăn hay thuận lợi trong việc thích ứng trường học, thích ứng học tập. Tổng hợp các nghiên cứu về phát triển của trẻ em trong những năm đầu bậc Tiểu học của Hội đồng khoa học quốc gia Mĩ (2007) chỉ ra r ng, năng lực giao tiếp và hợp tác tích cực cung cấp một nền tảng vững chắc cho sự phát triển não bộ và khả năng nhận thức.
Để giúp trẻ phát triển k năng này, họ đã thiết kế 3 chương trình rèn luyện dành 6 cho HS đầu bậc TH gồm: Thích ứng học đường (rèn luyện k năng hợp tác và k năng giải quyết vấn đề); K năng xúc cảm - xã hội (rèn luyện k năng đồng cảm, kiểm soát cảm xúc) và Trò chơi liên kết (giúp thể hiện hành vi và rèn luyện các k năng xã hội cơ bản cần thiết cho việc học tập nhóm thành công). Chương trình giáo dục kĩ năng giao tiếp và hợp tác như: Promotio Alternative Thinking Strategy, Second Step, The Incredible Years Series,.phát triển kĩ năng hợp tác ở trẻ trong độ tuổi mẫu giáo đến TH do các GV tiến hành trong các trường học với các nội dung rèn luyện gồm: Hiểu biết về hợp tác (tự nhận biết, khả năng điều khiển hoạt động của bản thân, điều khiển hành vi cảm xúc của mình); K năng chế ngự bản thân, quản lý hành động; K năng định hướng công việc và giải quyết các xung đột; K năng xã hội (hợp tác, thông cảm, kiểm soát cảm xúc,.); K năng kết bạn; K năng quyết đoán và tự bảo vệ; K năng ứng phó với sự thay đổi. Ngoài ra, còn có các chương trình bồi dưỡng k năng giao tiếp và hợp tác cho GV và phụ huynh học sinh với các chiến lược giảng dạy phát triển k năng giao tiếp và hợp tác cho trẻ em và thanh thiếu niên. Hướng dẫn các phương pháp làm thế nào để dạy các k năng giao tiếp và hợp tác b ng cách tích hợp trong chương trình giảng dạy học tập ở nhà trường và gia đình để giúp trẻ hiểu và biết cách điều chỉnh cảm xúc, thiết lập và duy trì tình bạn, giải quyết các vấn đề xã hội và thành công trong trường học.
Ở Việt Nam Theo UNESCO, mục đích học tập là "Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình". Vì vậy trong quá trình dạy học, giáo viên cần sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học đánh giá để tạo điều kiện cho học sinh phát triển được các phẩm chất, năng lực theo yêu cầu mục tiêu giáo dục phổ thông. Hợp tác và một trong những năng lực chung của Chương trình phổ thông mới sau 2018 [17]. Từ năm học 2002-2003, Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông trong cả nước.
Trong chương trình THCS đổi mới đã hướng đến giáo dục 7 năng lực giao tiếp và hợp tác thông qua lồng ghép một số môn học như: Giáo dục công dân, Tự nhiên xã hội, Khoa học,. Năm 2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chỉ thị số 40/CT-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về phát động phong trào thi đua và kế hoạch số 307/KH-BGD&ĐT ngày 22/07/2008 về kế hoạch triển khai “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 - 2013 trong đó xác định giáo dục k năng sống, k năng hợp tác cho HS là một trong năm nội dung cơ bản của phong trào thi đua này. Từ đó đến nay, trong các kế hoạch năm học h ng năm do Bộ GD-ĐT ban hành hay của các Phòng GD-ĐT và các trường THCS trên toàn quốc thì giáo dục k năng giao tiếp và hợp tác cho HS luôn là một nội dung giáo dục không thể thiếu và đó là một trong những nội dung trong công tác quản lý của cán bộ quản lý. Từ năm học 2010 - 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai kế hoạch 453/KH-BGD&ĐT ngày 30/07/2010 về tập huấn và triển khai giáo dục k năng giao tiếp và hợp tác trong một số môn học và hoạt động giáo dục ở TH, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông trên toàn quốc.
Kế hoạch này vẫn được tiếp tục cải tiến và đẩy mạnh phát huy cho đến thời điểm hiện nay. Bên cạnh các chủ trương của Bộ Giáo dục về vấn đề k năng giao tiếp và hợp tác và giáo dục k năng giao tiếp và hợp tác cho HS, nhiều nhà chuyên môn, nhà khoa học cũng bắt đầu nghiên cứu, viết tài liệu liên quan đến lĩnh vực k năng giao tiếp và hợp tác. Lê M Dung là một trong những tác giả nghiên cứu sâu về k năng giao tiếp hợp tác thông qua bài báo khoa học “Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp và hợp tác cho học sinh Trung học cở sở ở nhà trường hiện nay”, bài viết đề cập thực trạng giáo dục k năng giao tiếp và hợp tác cho HSTH ở nhà trường hiện nay, những thuận lợi và khó khăn trong việc giáo dục, trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị về biện pháp rèn luyện tích cực cho HSTH. Trần Thị Tú Anh và Trịnh Thị Thúy đã trình bày kết quả nghiên cứu thực trạng việc phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác - xã hội cho HSTH thông qua bài báo “Phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác - xã hội cho học sinh lớp 3 thông qua dạy môn Tiếng việt” được đăng trên Tạp chí Khoa học 8 và Giáo dục năm 2017, bài viết khuyến nghị cần quan tâm bồi dưỡng năng lực hợp tác - xã hôi cho giáo viên tiểu học và khuyến khích họ tăng cường phát triển năng lực này cho học sinh thông qua dạy học môn Tiếng Việt bởi tính phù hợp của nội dung và phương pháp dạy học.
Tác giả Ngô Thị Tuyên trong cuốn “Cẩm nang giáo dục cho học sinh tiểu học” đã chỉ ra r ng k năng giao tiếp và hợp tác là sản phẩm bắt buộc phải có của giáo dục nhà trường. Người đọc có được một cái nhìn khái quát và có sự nhìn nhận thấu đáo giữa phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại trong cách giáo dục trẻ. Trong những năm gần đây, có rất nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu k năng ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Đứng trên những bình diện nghiên cứu khác nhau, các tác giả đưa ra những quan điểm khác nhau về k năng.
Tùy quan niệm khác nhau về k năng, nhưng nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả đã góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận và k năng và đặc biệt các tác giả đã tập trung làm rõ một số thành phần, biểu hiện và mức độ hình thành k năng trong lĩnh vực tâm lý học và giáo dục học. Tuy trong nước có nhiều công trình nghiên cứu về kinh nghiệm học. Xong có rất ít những nghiên năng lực giao tiếp và hợp tác. Các tác giả chưa chỉ ra được cấu trúc, biểu hiện cũng như mức độ năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh.
Ví dụ: Bàn về năng lực chung và chuẩn đầu ra về năng lực, Tác giả Mai Văn Hưng (2013) cho r ng: “Năng lực hợp tác là khả năng của cá nhân biết thích ứng với tập thể nhóm, biết tự nhận trách nhiệm, chia sẻ công việc, giúp đỡ cộng sự và thực hiện có hiệu quả những thỏa thuận trong nhóm như kế hoạch đã đề ra” [26]. * Nghiên cứu về quản lý giáo dục năng lực giao tiếp và học tác cho học sinh Có thể nói, giao tiếp và hợp tác là con đường tiêu biểu cho sự phát triển các quốc gia cũng như của m i cá nhân. Giao tiếp và hợp tác không chỉ cần 9 thiết trong cuộc sống thường ngày mà ngay cả trong học tập, nó cũng đóng vai trò hết sức quan trọng. Dạy học theo hướng giáo dục năng lực giao tiếp và hợp tác là hình thức đặt HS vào môi trường học tập tích cực, trong đó HS được phân thành các nhóm để cùng nhau giao tiếp và hợp tác trong mọi hoạt động.
Học hợp tác giúp các em rèn luyện và phát triển kĩ năng làm việc, kĩ năng giao tiếp, tạo điều kiện cho HS học hỏi lẫn nhau, phát huy vai trò trách nhiệm, tích cực xã hội trên cơ sở làm việc hợp tác. Nhờ có hoạt động hợp tác mà các em HS có thể cùng nhau làm những công việc mà một mình bản thân các em không tự làm được trong một thời gian nhất định.