phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý quản lý hoạt động đánh giá giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp ở trƣờng trung học cơ sở Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp ở các trƣờng trung học cơ sở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp ở các trƣờng trung học cơ sở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ GIÁO VIÊN THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Hiệp hội Hiệu trƣởng bang New Jersey - Hoa Kỳ đã nghiên cứu về Chuẩn Hiệu trƣởng năm 2002, đề xuất bộ chuẩn gồm 6 chuẩn tƣơng đối riêng biệt nhau, tƣơng ứng với những công việc cụ thể của Hiệu trƣởng. Nội dung mỗi chuẩn các nhà nghiên cứu đề xuất có hai nội dung: Yêu cầu của chuẩn và những chiến lƣợc hành động. Bộ Giáo dục Bắc Carolida - Hoa Kỳ (1998) ban hành Chuẩn Hiệu trƣởng đƣợc xây dựng theo các yêu cầu và tiêu chí đánh giá về chỉ số thành tích của nhà trƣờng do Hiệu trƣởng quản lý. Chuẩn đƣợc xây dựng dựa trên các lĩnh vực cần đánh giá: Tầm nhìn; Thành tích học tập cao; Nhà trƣờng an toàn và trật tự, giáo viên, quản trị viên và nhân sự có chất lƣợng tốt; Vận hành hiệu quả và hiệu lực [dẫn theo 26].
Tác giả Phan Sắc Long (2005) đã nghiên cứu sự cần thiết của việc xây dựng chuẩn nghề nghiệp đối với giáo viên tiểu học, tác giả phân tích vai trò của chuẩn nghề nghiệp trong đánh giá giáo viên và phát triển nghề nghiệp giáo viên tiểu học [14]. Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Quyên (2007) nghiên cứu về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học dƣới góc độ khai thác ý nghĩa, mục đích của việc xây dựng chuẩn nghề nghiệp và yêu cầu thiết chế hóa việc đánh giá năng lực nghề nghiệp giáo viên theo chuẩn, trên cơ sở đó tác giả đề xuất một số biện pháp bồi dƣỡng giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp[20]. Tác giả Trần Ngọc Giao (2007) nghiên cứu về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên đã khẳng định sự cần thiết phải xây dựng chuẩn nghề nghiệp giáo viên và vai trò của quản lý trong sử dụng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên [5]. 6 Trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu về đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp, tuy nhiên năm 2018 để triển khai thực hiện chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tƣ 20/2018/TT-BGDĐT về ban hành chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông.
Hiện nay, việc đánh giá giáo viên đang đƣợc thực hiện theo Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, việc vận dụng Chuẩn nghề nghiệp vào đánh giá giáo viên và quản lý hoạt động đánh giá theo chuẩn nghệ nghiệp trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Theo nghiên cứu của tác giả thì những công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động đánh giá giáo viên THCS theo chuẩn nghề nghiệp còn rất ít và chƣa nghiên cứu đầy đủ, hệ thống về vấn đề này. Vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề “Quản lý hoạt động đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp ở các trƣờng Trung học cơ sở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên” làm nội dung nghiên cứu nhằm xác định hệ thống cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng quản lý của Hiệu trƣởng trong việc áp dụng Chuẩn vào đánh giá giáo viên, từ đó, đề xuất một số biện pháp tăng cƣờng quản lý cho Hiệu trƣởng trong việc đánh giá giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp ở các trƣờng THCS huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.
Một số khái niệm cơ bản 1. Taylor: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phƣơng pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” [26]. Harold Kontz cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục đích của nhóm (tổ chức) với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn của cá nhân ít nhất. Với tƣ cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [26].
7 Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện đƣợc những mục tiêu dự kiến”. Nhƣ vậy khái niệm quản lý đƣợc hiểu là tác động của chủ thể quản lý đến đối tƣợng, khách thể quản lý theo mục tiêu xác định [18]. Trần Kiểm quan niệm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ƣu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” quản lý ở đây đƣợc hiểu là những tác động của chủ thể nhằm huy động, khai thác tối đa nguồn lực nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức [11]. Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hƣớng, quá trình có mục tiêu; quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt đƣợc mục tiêu nhất định” [10].
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [2]. Từ các phân tích trên cho thấy khái niệm quản lý đƣợc biểu đạt bởi nhiều cách khác nhau, tuy nhiên nó có một số điểm chung cơ bản sau đây: - Nó là một dạng hoạt động đặc biệt trong mỗi tổ chức. - Là sự tác động có định hƣớng, có mục tiêu, mục đích rõ ràng. - Là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tƣợng và khách thể quản lý.
- Là việc huy động, sử dụng các nguồn lực nhằm thực hiện các mục tiêu của tổ chức. - Là việc vận dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Tác giả luận văn chọn khái niệm sau làm khái niệm cơ bản của đề tài: Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng các chức năng lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra nhằm huy động các nguồn lực của tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt được những mục tiêu đã đề ra của tổ chức. Quản lý giáo dục Theo tác giả Kondakop M.I, "Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp nhằm đảm bảo sự vận hành bình thƣờng của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng" [15].
Theo quan điểm của Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trƣờng, quản lý giáo dục nói chung là thực hiện đƣờng lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đƣa nhà trƣờng vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục và thế hệ trẻ. Theo tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo: "Quản lý giáo dục đƣợc hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm thực hiện có chất lƣợng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đã đặt ra cho ngành giáo dục" [7]. - Quản lý giáo dục ở cấp độ vi mô là các hoạt động quản lý diễn ra trong nhà trƣờng đó là những tác động của Hiệu trƣởng tới các quá trình hoạt động của nhà trƣờng và các lực lƣợng liên đới bao gồm hệ thống những tác động có hƣớng đích của hiệu trƣởng đến các hoạt động giáo dục, đến con ngƣời (giáo viên, cán bộ nhân viên và học sinh) đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin.) đến các ảnh hƣởng ngoài nhà trƣờng một cách hợp quy luật (quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xã hội.) nhằm đạt mục tiêu giáo dục. Tác giả chọn khái niệm sau làm khái niệm cơ bản của đề tài: Quản lý giáo dục là những tác động có mục đích, có kế hoạch của Hiệu trưởng nhà trường tới giáo viên, học sinh và các lực lượng liên đới cùng mọi quá trình hoạt động của nhà trường nhằm vận hành nhà trường đi đến mục tiêu theo đúng tính chất và nguyên lý của nó.
Đánh giá Theo tác giả C. Beeby: “Đánh giá là sự thu thập và lý giải một cách có hệ thống những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về giá trị theo quan điểm hành động” [19]. Theo tác giả Trần Bá Hoành: "Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc dựa vào việc phân tích những thông tin thu đƣợc, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lƣợng và hiệu quả công việc" [8]. Theo tác giả Trần Khánh Đức: "Đánh giá là quá trình xem xét, bình phẩm về các đặc trƣng, thuộc tính hay giá trị của một sự vật hoặc hoạt động, hiện tƣợng nào đó theo các tiêu chí và chuẩn mực so sánh nhất định (định lƣợng hoặc định tính)" [4].
Đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin về thực trạng, chỉ rõ kết quả đạt đƣợc hay chƣa đạt đƣợc so với chuẩn, mục tiêu đặt ra, phân tích nguyên nhân dẫn tới thực trạng và đề xuất biện pháp cải tạo thực trạng. Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập thông tin về thực trạng giáo dục, phân tích so sánh, đối chiếu với chuẩn, chỉ rõ những kết quả đạt đƣợc và những kết quả chƣa đạt đƣợc, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao thành tích giáo dục. Trong giáo dục, đánh giá bao gồm: Đánh giá kết quả học tập; Đánh giá chƣơng trình đào tạo; Đánh giá giáo viên, học sinh; Đánh giá khóa học; Đánh giá nhà trƣờng (Xếp hạng hoặc kiểm định công nhận cơ sở đào tạo).