Luận văn thạc sĩ: Quản lý nhà nước về công tác dân tộc tại tỉnh Quảng Bình

Luận văn thạc sĩ phân tích quản lý công quản lý nhà nước về công tác dân tộc từ thực tiễn tỉnh quảng bình, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực

Trường đại học

Học Viện Hành Chính Quốc Gia

Chuyên ngành

Quản Lý Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

121
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh luận văn QLNN về công tác dân tộc tại Quảng Bình

Luận văn thạc sĩ quản lý công với chủ đề Quản lý nhà nước về công tác dân tộc từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình là một đề tài nghiên cứu khoa học về dân tộc có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Công trình này hệ thống hóa các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác dân tộc. Tỉnh Quảng Bình, với đặc thù địa lý phức tạp và sự đa dạng của các cộng đồng dân tộc thiểu số như dân tộc Bru-Vân Kiềudân tộc Chứt, là một địa bàn chiến lược về an ninh - quốc phòng. Do đó, việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này không chỉ là nhiệm vụ phát triển kinh tế mà còn là yếu tố then chốt để giữ vững ổn định chính trị. Luận văn tập trung phân tích sâu sắc thực trạng công tác dân tộc tại địa phương, từ đó chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân cốt lõi. Dựa trên cơ sở lý luận về quản lý nhà nước, nghiên cứu đề xuất các phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dân tộc, góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách, cán bộ làm công tác dân tộc và các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý công.

1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu về công tác dân tộc

Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn được Đảng và Nhà nước xác định là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài. Tại Quảng Bình, chính sách dân tộc đã góp phần cải thiện đời sống đồng bào, tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn không ngừng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá. Thực tiễn cho thấy, nhận thức và trách nhiệm về công tác dân tộc ở một số cấp chính quyền cơ sở còn hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống và khoa học về quản lý nhà nước về công tác dân tộc tại tỉnh là yêu cầu cấp bách, nhằm cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý.

1.2. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu của luận văn thạc sĩ

Mục tiêu chính của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước về công tác dân tộc tại Quảng Bình. Để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Các phương pháp cụ thể bao gồm nghiên cứu tài liệu, thống kê, phân tích và tổng hợp. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Bình từ năm 2016 đến nay, cung cấp một cái nhìn toàn diện và cập nhật về lĩnh vực quan trọng này.

II. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về công tác dân tộc

Chương 2 của luận văn tập trung đánh giá một cách khách quan thực trạng công tác dân tộc tại Quảng Bình. Trong những năm qua, tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Vai trò của chính quyền địa phương được thể hiện rõ nét qua việc triển khai hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS. Các chính sách về tín dụng, y tế, giáo dục đã giúp cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, công tác quản lý nhà nước về dân tộc thiểu số vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Theo tác giả Nguyễn Minh Phương, tổ chức bộ máy cơ quan công tác dân tộc thiếu ổn định, việc ban hành văn bản chỉ đạo còn chậm, và sự phối hợp giữa các ngành chưa chặt chẽ. Đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc thiếu về số lượng và chưa được đào tạo chuyên sâu. Công tác thanh tra, kiểm tra còn yếu, dẫn đến hiệu quả thực thi chính sách chưa cao. Đặc biệt, an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc vẫn là một thách thức lớn khi tỷ lệ hộ nghèo trong vùng dân tộc thiểu số còn cao, khoảng cách phát triển so với các vùng khác chưa được thu hẹp đáng kể.

2.1. Những hạn chế trong tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực

Một trong những bất cập lớn nhất được chỉ ra là hệ thống tổ chức cơ quan làm công tác dân tộc chưa ổn định và thiếu xuyên suốt từ tỉnh đến cơ sở. Sau khi sáp nhập Phòng Dân tộc cấp huyện vào các phòng ban khác theo Nghị định 14/2008/NĐ-CP, hoạt động tham mưu bị ảnh hưởng. Mặc dù sau đó đã được tái lập, nhưng sự gián đoạn này đã tạo ra khoảng trống trong quản lý. Hơn nữa, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác dân tộc, đặc biệt là người dân tộc thiểu số, còn mỏng và yếu về chuyên môn, nghiệp vụ. Việc thiếu chính sách đãi ngộ phù hợp cũng khiến việc thu hút và giữ chân nhân tài gặp nhiều khó khăn.

2.2. Bất cập trong triển khai và giám sát chính sách dân tộc

Việc triển khai các chính sách dân tộc đôi khi còn chồng chéo, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa Ban Dân tộc tỉnh và các sở, ngành liên quan. Nguồn lực đầu tư cho các chương trình, dự án còn hạn hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách chưa được tiến hành thường xuyên và quyết liệt. Điều này dẫn đến tình trạng một số chính sách chưa thực sự đi vào cuộc sống hoặc hiệu quả mang lại không như kỳ vọng, gây lãng phí nguồn lực và làm giảm lòng tin của nhân dân.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc

Từ việc phân tích sâu sắc thực trạng, luận văn đã đề xuất một hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dân tộc một cách toàn diện và khả thi. Giải pháp trọng tâm đầu tiên là nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí chiến lược của công tác dân tộc trong toàn bộ hệ thống chính trị. Cần xác định đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, chứ không chỉ riêng cơ quan chuyên trách. Tiếp theo, cần đổi mới mạnh mẽ phương thức thực hiện công tác dân tộc, chuyển từ hỗ trợ mang tính bao cấp, cho không sang hỗ trợ có điều kiện, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường của đồng bào. Việc xây dựng và triển khai các chính sách dân tộc phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và có sự tham gia của chính người dân. Bên cạnh đó, luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật. Phải sử dụng các hình thức đa dạng, phù hợp với văn hóa và ngôn ngữ của từng dân tộc để nâng cao nhận thức pháp luật, giúp đồng bào chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời cảnh giác trước âm mưu chia rẽ của các thế lực thù địch.

3.1. Đổi mới nhận thức và phương thức triển khai chính sách

Cần tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng của quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Các chương trình, dự án cần được thiết kế theo hướng phát huy nội lực, trao quyền cho cộng đồng. Thay vì chỉ cung cấp hỗ trợ vật chất, cần tập trung vào chuyển giao khoa học kỹ thuật, đào tạo nghề, và tạo sinh kế bền vững, giúp đồng bào vươn lên thoát nghèo một cách chủ động.

3.2. Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục pháp luật cho đồng bào

Công tác tuyên truyền cần được thực hiện thường xuyên, liên tục với nội dung và hình thức phong phú. Cần phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng để truyền tải chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc cần được lồng ghép trong các hoạt động tuyên truyền, tạo sự gần gũi và hấp dẫn, giúp đồng bào dễ dàng tiếp nhận thông tin và tự giác chấp hành pháp luật.

IV. Phương pháp kiện toàn bộ máy QLNN về công tác dân tộc

Một trong những giải pháp mang tính đột phá được luận văn đề cập là việc tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Hệ thống cơ quan này cần được củng cố theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và đảm bảo tính thống nhất, thông suốt từ trung ương đến cơ sở. Luận văn đề xuất cần ổn định mô hình Ban Dân tộc cấp tỉnh và Phòng Dân tộc cấp huyện, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, tránh chồng chéo với các cơ quan khác. Đặc biệt, việc đào tạo, bồi dưỡng và quy hoạch đội ngũ cán bộ là yếu tố then chốt. Cần xây dựng chính sách ưu tiên trong tuyển dụng, đào tạo và sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số, nhất là cán bộ nữ, cán bộ trẻ. Chương trình đào tạo cần được cập nhật, trang bị không chỉ kiến thức về quản lý nhà nước mà còn cả kỹ năng dân vận, hiểu biết sâu sắc về phong tục, tập quán của đồng bào. Cơ quan Ủy ban Dân tộc cần phối hợp chặt chẽ với các địa phương để xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực dài hạn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

4.1. Tái cấu trúc cơ quan chuyên trách công tác dân tộc các cấp

Cần rà soát, đánh giá lại hiệu quả hoạt động của Ban Dân tộc tỉnh và Phòng Dân tộc các huyện miền núi. Trên cơ sở đó, xây dựng quy chế phối hợp rõ ràng giữa cơ quan công tác dân tộc với các sở, ban, ngành khác trong việc triển khai các chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số. Ở cấp xã, cần có cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm được đào tạo bài bản, có chế độ đãi ngộ xứng đáng để họ yên tâm công tác và bám sát cơ sở.

4.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số và cán bộ chuyên trách

Luận văn đề xuất cần có chính sách đặc thù để thu hút sinh viên người dân tộc thiểu số tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng về công tác tại địa phương. Cần mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu về công tác dân tộc, cập nhật kiến thức pháp luật và kỹ năng quản lý. Việc quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ người dân tộc thiểu số vào các vị trí lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cơ sở là một hướng đi chiến lược nhằm tăng cường hiệu quả quản lý và củng cố niềm tin của nhân dân.

V. Kinh nghiệm thực tiễn quản lý công tác dân tộc hiệu quả

Để làm phong phú thêm cơ sở thực tiễn cho các giải pháp đề xuất, luận văn đã nghiên cứu và rút ra những kinh nghiệm thực tiễn quản lý công tác dân tộc từ một số địa phương trong nước và quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, các tỉnh như Gia Lai, Bình Định đã ban hành nhiều chính sách đặc thù riêng, bên cạnh chính sách chung của Trung ương, để hỗ trợ phát triển kinh tế, kiên cố hóa hạ tầng và đào tạo nghề cho đồng bào. Ví dụ, chính sách phân công các cơ quan, doanh nghiệp kết nghĩa với thôn, bản vùng dân tộc thiểu số đã phát huy hiệu quả tốt. Trên bình diện quốc tế, mô hình khu tự trị dân tộc của Trung Quốc hay chính sách phát triển toàn diện, không phân biệt đa số - thiểu số của Lào đều cung cấp những góc nhìn tham khảo giá trị. Những bài học này cho thấy, quản lý nhà nước về công tác dân tộc cần sự linh hoạt, sáng tạo, không áp dụng máy móc. Mỗi chính sách cần được điều chỉnh để phù hợp với đặc điểm lịch sử, văn hóa và trình độ phát triển của từng cộng đồng dân tộc cụ thể, đảm bảo mục tiêu cuối cùng là bình đẳng, đoàn kết và cùng phát triển.

5.1. Bài học từ các mô hình thành công trong nước

Kinh nghiệm từ các tỉnh bạn cho thấy tầm quan trọng của việc ban hành các chính sách riêng, phù hợp với điều kiện địa phương. Việc ưu tiên bố trí cán bộ người dân tộc thiểu số tại chỗ vào bộ máy chính quyền, đoàn thể cơ sở như cách làm của Gia Lai là một bài học quý giá. Quảng Bình có thể học hỏi cách huy động nguồn lực xã hội hóa, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào vùng dân tộc thiểu số, tạo ra chuỗi giá trị và việc làm bền vững cho người dân.

5.2. Tham khảo kinh nghiệm quản lý nhà nước về dân tộc quốc tế

Nghiên cứu mô hình của Trung Quốc và Lào cho thấy việc tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là nền tảng của sự đoàn kết. Chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc không chỉ mang ý nghĩa xã hội mà còn có thể trở thành nguồn lực để phát triển du lịch cộng đồng. Việc lồng ghép các mục tiêu phát triển của vùng dân tộc thiểu số vào chiến lược phát triển chung của quốc gia, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau, là một nguyên tắc quan trọng cần được áp dụng.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý công quản lý nhà nước về công tác dân tộc từ thực tiễn tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương. Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về công tác dân tộc Chương 2. Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, Chương 3. Quan điểm, giải pháp tiếp tục hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước về công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC 1.

Một số khái niệm 1. Dân tộc Cho đến nay, khái niệm dân tộc vẫn còn nhiều tranh luận giữa các nhà khoa học. Từ điển Bách khoa Việt Nam viết: Dân tộc hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này là của nhiều cộng đồng mang tính tộc người. Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau.

Từ điển Tiếng Việt đưa ra hai định nghĩa: 1) d n tộc là cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và thống nhất về văn hóa, t m lý; 2) d n tộc là cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi, chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung. Giáo trình Triết học Mác - Lênin (Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Ch Minh) đã viết: Khái niệm dân tộc thông thường được dùng để chỉ hầu như tất cả các hình thức cộng đồng người (bộ lạc, bộ tộc, dân tộc). Cần phân biệt dân tộc theo nghĩa rộng trên đ y với dân tộc theo nghĩa khoa học: đó là hình thức cộng đồng người cao hơn các hình thức cộng đồng người trước đó, kể cả bộ tộc. Cũng như bộ tộc, dân tộc là hình thức cộng đồng người gắn liền với xã hội có giai cấp, có nhà nước và các thể chế chính trị.

Dân tộc có thể từ một bộ tộc phát triển lên, song đa số trường hợp được hình thành trên cơ sở nhiều bộ tộc và tộc người 10 hợp lại. Từ hình thức cộng đồng trước dân tộc phát triển lên dân tộc là một quá trình vừa có tính liên tục vừa có tính nhảy vọt lớn. Theo nghĩa rộng, dân tộc là một cộng đồng người thống nhất, có chung một nhà nước, một lãnh thổ, một nền kinh tế, một chế độ chính trị xã hội, có ngôn ngữ, văn hóa chung, thống nhất [44, tr. Như vậy, theo nghĩa này, nói tới dân tộc là nói tới quốc gia (nation).

Sự hình thành dân tộc là sự ra đời Nhà nước – Nhà nước dân tộc. Nhà nước dân tộc có thể là một tộc người, là dân tộc đơn nhất như Triều Tiên, Nhật Bản, cũng có thể là nhiều tộc người, là dân tộc đa tộc người như Việt Nam, Trung Quốc, Nga. Nhà nước dân tộc phải là nhà nước độc lập, có lãnh thổ toàn vẹn, có chủ quyền. Dân tộc không chỉ là một cộng đồng người hay cộng đồng đa tộc người mà còn là một cộng đồng kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa gắn với nhà nước và những điều kiện lịch sử nhất định.

Theo nghĩa hẹp, dân tộc là chỉ một tộc người cụ thể (ethnic). Ví dụ: Việt Nam là một quốc gia đa d n tộc, là quốc gia đa tộc người, gồm 54 tộc người, ngoài tộc người Kinh chiếm đa số về số dân, cón có 53 tộc người thiểu số khác: Mường, Thái, Tày, Nùng, Ê Đê, Ba Na, Chăm, Khmer. khi nói dân tộc, tộc người là nói theo nghĩa hẹp. Tộc người trong quốc gia - dân tộc có nhiều tộc người hợp thành là một thành phần trong cơ cấu của dân tộc – quốc gia đó.

Các tộc người bình đẳng (thiểu số cũng như đa số), cùng sinh sống, có chung chế độ chính trị, nhà nước pháp luật, kinh tế, văn hóa nhưng lại có văn hóa tộc người riêng của mình (ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lối sống riêng của tộc người). Như vậy, dân tộc - quốc gia nổi bật ở tính toàn vẹn lãnh thổ, độc lập chủ quyền. Trong khi đó d n tộc – tộc người lại đặc biệt nổi bật ở văn hóa tộc người. Trong luận văn này, khái niệm dân tộc được sử dụng theo nghĩa hẹp, tức là dân tộc – tộc người.

11 - Dân tộc đa số: là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia [5]. 12 - Dân tộc thiểu số (DTTS) là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [5] - Dân tộc rất ít người là dân tộc có số dân dược 10. Vấn đề dân tộc “Vấn đề dân tộc đó là vấn đề về việc xác lập những quan hệ công bằng và bình đẳng giữa các dân tộc về mặt kinh tế, chính trị, xã hội, lãnh thổ, sinh hoạt, văn hóa, ngôn ngữ”. “Vấn đề dân tộc là vấn đề rộng lớn, bao gồm những quan hệ về chính trị, kinh tế, lãnh thổ, pháp lý, tư tưởng và văn hóa giữa các dân tộc, các nhóm dân tộc và bộ lạc”.

Như vậy, nói về vấn đề dân tộc là nói đến mối quan hệ giữa các dân tộc (hoặc giữa các tộc người) trong một quốc gia và giữa các dân tộc quốc gia này với dân tộc quốc gia khác trên thế giới về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, lãnh thổ, pháp lý. Quan điểm đánh giá, giải quyết vấn đề dân tộc phụ thuộc vào quan điểm của các giai cấp lãnh đạo, các đảng phái cầm quyền trong lịch sử xã hội. Quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [17. Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp.

Theo nghĩa rộng là toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất 13 nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước. Chủ thể của QLNN theo nghĩa rộng là tất cả các cơ quan của bộ máy nhà nước bao gồm ba hệ thống cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhân dân cũng là chủ thể QLNN theo nghĩa rộng khi thực hiện trưng cầu dân ý – bỏ phiếu toàn dân, hoặc tham gia quản lý nhà nước bằng các hình thức khác. Các tổ chức xã hội, các cơ quan xã hội.

cũng là chủ thể của QLNN theo nghĩa rộng nếu được nhà nước trao quyền thực hiện chức năng nhà nước [51, tr. Hiểu theo nghĩa hẹp, là hoạt động của quản lý do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện. Đó là hoạt động chấp hành Hiến pháp, pháp luật và điều hành nhà nước (hay thường gọi đơn giản là hoạt động chấp hành và điều hành). Chủ thể của QLNN theo nghĩa hẹp là toàn bộ các cơ quan hành chính nhà nước đứng đầu là Chính phủ và các cơ quan phái sinh từ chúng, các cơ quan đơn vị, tổ chức và các cán bộ công chức trực thuộc.

Vì vậy, trong thực tiễn quản lý và lý luận chúng còn được gọi là các cơn quan quản lý nhà nước [51, tr. Trong giới hạn của Luận văn, quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa hẹp. Quản lý nhà nước về công tác dân tộc Trong nghiên cứu và hoạt động thực tiễn hiện nay, “quản lý nhà nước về công tác dân tộc” được các tác giả sử dụng với nhiều khái niệm như: “QLNN về vấn đề dân tộc”, “QLNN về dân tộc”, “QLNN về lĩnh vực công tác dân tộc”, “QLNN ở vùng dân tộc”. cho đến nay khái niệm quản lý nhà nước về công tác dân tộc chưa được đưa ra một cách chính thống tại các văn bản QPPL.

Nghị định số 60/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc có nêu: “.thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước”. Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ trong phần giải thích từ ngữ đã nêu: “Công tác dân tộc” là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của 14 công dân. 15 Như vậy, quản lý nhà nước về công tác dân tộc là một bộ phận cấu thành của hệ thống quản lý nhà nước; quản lý nhà nước về công tác dân tộc là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh và chấp hành mọi hoạt động trong lĩnh vực công tác dân tộc, để những hoạt động đó diễn ra theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm mục đích phát triển toàn diện các dân tộc. Nội dung quản lý nhà nƣớc về công tác dân tộc - Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về công tác dân tộc + Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực cùng phát triển với đất nước (Điều 5).

Quốc hội có quyền quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước (khoản 5, Điều 70). Hội đồng Dân tộc Quốc hội ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn khác như các Ủy ban của Quốc hội còn có một số nhiệm vụ như: nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội về công tác dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số; được mời tham dự phiên họp của Chính phủ bàn về việc thực hiện chính sách dân tộc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ