Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG 1. Tổng quan về chi thường xuyên ngân sách nhà nước trong các đơn vị sự nghiệp công 1. Đơn vị sự nghiệp công và khái niệm, đặc điểm, vai trò, mục tiêu của đào tạo bồi dưỡng 1. Khái niệm và các yếu tố nhận diện Đơn vị sự nghiệp công lập a, Khái niệm: Theo khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức 2010 quy định đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước.
Bên cạnh đó, tại Điều 3 Nghị định 120/2020/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01/12/2020) quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập quy định đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ngoài là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ, cơ quan ngang bộ hoặc thuộc cơ quan thuộc Chính phủ do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng theo quy định của pháp luật và đặt trụ sở ở nước ngoài. Ngoài ra, tại Điều 2 Luật Viên chức cũng quy định người được tuyển dụng theo vị trí việc làm và làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập là viên chức. b, Đơn vị sự nghiệp công lập được nhận diện thông qua các yếu tố sau đây: Được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định; Là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; Có tư cách pháp nhân; 5 e Cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước; Viên chức là lực lượng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị. Trong đó, đặc trưng của đơn vị sự nghiệp để phân biệt với cơ quan hành chính nhà nước.
Đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và các cơ quan, tổ chức khác. Là vị trí pháp lý, tính chất hoạt động và đội ngũ viên chức. Các đơn vị sự nghiệp được các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội. Thành lập theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và là bộ phận cấu thành trong cơ cấu tổ chức cơ quan nhà nước.
Nhưng không mang quyền lực nhà nước, không có chức năng quản lý nhà nước như: Xây dựng thể chế, thanh tra, xử lý vi phạm hành chính… Các đơn vị sự nghiệp công lập bình đẳng với các tổ chức, cá nhân trong quan hệ cung cấp dịch vụ công. Phân loại Đơn vị sự nghiệp công Các đơn vị sự nghiệp công lập không chỉ đông đảo về số lượng. Mà còn đa dạng về loại hình, lĩnh vực hoạt động. Do vậy, việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập rất phức tạp tùy theo tiêu chí phân loại.
Theo tiêu chí mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập Nghị định 60/2021/NĐ-CP ngày 21/06/2021 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập đã chia đơn vị sự nghiệp công lập thành 4 loại: • Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; • Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; • Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; • Đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên. Luật Viên chức năm 2010 quy định 2 loại đơn vị sự nghiệp công lập gồm: Đơn vị được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự. Và đơn vị chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự. Tiêu chí phân 6 e loại này không chỉ dựa trên khả năng tự chủ tài chính.
Mà còn phụ thuộc vào mức độ tự chủ nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và nhân sự. Xét dưới góc độ vị trí pháp lý, đơn vị sự nghiệp công lập có thể chia thành 5 loại sau: * Đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ; * Đơn vị thuộc Tổng cục, Cục; * Đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; * Đơn vị thuộc cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; * Đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Trong đó, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ bao gồm: Các đơn vị sự nghiệp công lập được quy định tại nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Và cơ cấu tổ chức của từng Bộ, cơ quan ngang Bộ (các đơn vị nghiên cứu chiến lược, chính sách về ngành, lĩnh vực; báo; tạp chí.
Trung tâm thông tin hoặc tin học. Trường hoặc trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; học viện). Và các đơn vị sự nghiệp công lập trong danh sách ban hành kèm theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, mục tiêu của đào tạo bồi dưỡng Thứ nhất: Khái niệm đào tạo bồi dưỡng Đào tạo bồi dưỡng cho công chức trong cơ quan nhà nước là một trong những nhiệm vụ quan trọng để nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ công chức, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Trên thực tế có nhiều cách hiểu khác nhau về đào tạo, bồi dưỡng. Theo Từ điển tiếng Việt do GS. Hoàng Phê chủ biên (Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2010): “Đào tạo là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”; “Bồi dưỡng là làm cho năng lực hoặc phẩm chất tăng thêm”. Theo Đại từ điển tiếng Việt do GS.
Nguyễn Như Ý chủ biên (Nhà xuất bản Văn hoá – Thông tin, Hà Nội, 1998): “Đào tạo là dạy dỗ, rèn luyện để trở 7 e nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp”; “Bồi dưỡng là làm cho tốt hơn, giỏi hơn”. Như vậy, theo các từ điển tiếng Việt, khái niệm “đào tạo”, “bồi dưỡng” mặc dù có một số nét tương đối đồng nhất (làm tốt hơn, mạnh hơn, chuyên nghiệp hơn cho khách thể) song đây là hai khái niệm không đồng nghĩa nhau bằng những nội hàm cụ thể: Đào tạo được hiểu là một quá trình dài, khép kín nhằm trang bị và xây dựng cho khách thể các tố chất mà trước đó khách thể đó không có; Bồi dưỡng chỉ được coi là một giai đoạn ngắn, bổ trợ nhằm bồi bổ thêm, làm tốt thêm và nâng cao hơn các tố chất vốn đã có sẵn của khách thể. Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 5/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức, đào tạo bồi dưỡng được hiểu như sau: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học”. “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”.
Theo cách hiểu như trên, đào tạo là quá trình truyền đạt một lượng kiến thức nhất định cho một đối tượng học tập cụ thể mà quá trình truyền đạt này phải là một quy trình khép kín với những chuẩn mực và hệ phương pháp dạy và học cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định. Yếu tố xuất phát điểm của năng lực, kiến thức đầu vào của đối tượng được đào tạo không nhất thiết phải làm làm rõ, nhưng năng lực, kiến thức đầu ra (sau quá trình truyền đạt, dạy và học) phải được quy chuẩn và xác định rõ các tiêu chuẩn đã đạt được. Sự chuyển biến về chất lượng năng lực và kiến thức của đối tượng được đào tạo sau khi trải qua một quy trình dạy và học để có thể đảm nhận và đáp ứng được yêu cầu của một chuyên ngành được học. Bồi dưỡng là quá trình truyền đạt thêm một lượng kiến thức nhất định cho một đối tượng học tập cụ thể, trong đó không nhất thiết phải làm rõ về quá trình và hệ phương pháp truyền đạt thêm, cũng không nhất thiết phải thay đổi 8 e cơ bản chất lượng năng lực và kiến thức của người học mà chỉ cần cung cấp thêm năng lực và kiến thức cho họ.
Nói cách khác, đào tạo là quá trình trang bị những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp thích hợp để người được đào tạo có thể đảm nhận được công việc nhận định còn bồi dưỡng là quá trình nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp trên cơ sở của mặt bằng kiến thức đã được đào tạo trước đó. Như vậy, về mặt khoa học (trong Từ điển tiếng Việt) và về mặt pháp lý (trong các văn bản quy phạm pháp luật) có sự thống nhất cơ bản là “đào tạo” và “bồi dưỡng” tồn tại với 2 khái niệm độc lập. Tuy nhiên, trong thực tiễn vẫn có một quan niệm mới về đào tạo bồi dưỡng là một thuật ngữ chung không tách rời. Đào tạo bồi dưỡng có cùng một mục đích chung là làm cho người lao động có trình độ chuyên môn, có khả năng xử lý công việc và năng lực công tác tốt hơn.
Trên thực tế có một số hoạt động đào tạo hoặc bồi dưỡng rất khó phân chia thành từng nội dung “đào tạo”, “bồi dưỡng” tách rời bởi chúng có sự đan xen, kế thừa lẫn nhau, đặc biệt là hoạt động đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức. Đào tạo bồi dưỡng là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp bậc đào tạo, đồng thời vừa trang bị, cập nhật, rèn luyện để nâng cao kiến thức, kỹ năng cần thiết cho học viên. Thông qua quá trình đào tạo bồi dưỡng, học viên có thể đạt được trình độ, kiến thức, chuyên môn nghề nghiệp nhất định, giúp họ khai thác tốt tiềm năng vốn có để vận dụng trong công việc. Trong phạm vi nghiên cứu về quản lý chi thường xuyên tại Trường Nghiệp vụ Thuế, đơn vị thực hiện chức năng nhiệm vụ đào tạo bồi dưỡng công chức ngành Thuế, Luận văn thạc sỹ này sử dụng khái niệm chung về đào tạo bồi dưỡng như vừa trình bày ở trên.
Thứ hai: Đặc điểm về đào tạo bồi dưỡng công chức Một là, đào tạo bồi dưỡng gắn với chức nghiệp và vị trí việc làm của công chức, viên chức. Mọi tổ chức được hình thành và ra đời đều có vai trò, sứ 9 e mệnh nhất định và thực hiện các chức năng nhiệm vụ riêng của mình.