Chương 1 Lich sử hình thành và phát triên Công ước BernE 1. Lịch sử hình thành Công ước Berne ` 1. Nguồn gốc hình thành đạo luật bản quyền Trong nền văn hóa cô xưa, từ khi loài người nghĩ ra chữ viết thì các giá trị văn hóa bắt đầu được ghi chép lại. Nhưng vật liệu để viết rất thô sơ, chưa có giấy nên họ thường viết chữ lên lá cây, vỏ cây, da và xương thú, mai rùa, đồng, da hoặc mảnh tre ghép lại.
Công việc viết chữ khó khăn và cũng chưa được coi trọng nên không được cộng đồng dân cư đón nhận. Do đó, các sản phẩm trí tuệ thời bấy giờ không thuộc về một cá nhân hay một nhóm người nảo tạo ra chúng mà thuộc về cộng đồng và xã hội, là sản phẩm trí tuệ chung của tập thể chứ không của riêng một ai. Phần lớn người dân đều không biết chữ nên họ cũng không quan tâm nhiều đến việc ai là tác giả của những sản phẩm trí tuệ đó. Trải qua thời gian, xã hội ngày càng phát triển thì quan điểm trên cũng dan dần được thay đổi, nhất là ở các xã hội phương Tây.
Trong thời kỳ Trung cô, ít có tác phẩm trí tuệ nào được ghi danh tác giả. Khi đó, nhà thờ đảm nhiệm cả việc sao chép và sản xuất các sản phẩm trí tuệ của phương Tây dưới dạng các bản chép tay. Dần dần, công việc sản xuất, bán và bán lại các bản chép tay ở các nước châu Âu được tổ chức tốt hon và chuyên môn hóa cao hơn. Điều đó đã giúp cho số lượng người dân tiếp cận với sách vở nhiều hơn, làm tăng ty lệ người biết chữ và mở đường phát triển cho những công nghệ in ấn bằng máy thay vì phải chép tay.
Lịch sử cho rằng Trung Quốc là quốc gia đầu tiên phát minh ra cách in an bang những tắm gỗ. Quyền sách in cô nhất thé giới là ở Trung Quốc. Việc khắc chữ lên gỗ dé in là một bước tiến quan trọng trong việc lưu truyền chữ viết trong nhân dân, nhưng phạm vi phổ biến tác phẩm van bị hạn chế, vì việc kỹ thuật in nay cho số lượng nhân bản không nhiều. Động lực cho sự phát triển kỹ thuật in là nhu cầu in Kinh thánh của đạo Thiên chúa phục vụ đông đảo tín đồ và truyền giáo thời cuối Trung cô.
Cho đến khi con người phát minh ra máy in thì cho thấy số lượng sách rõ 10 ràng có thé được nhân bản nhiều và dé hơn so với chép tay trước đó. Day là một máy in chữ rời bằng gỗ, hoạt động bằng tay. Phát minh này thuộc về Johannes Gutenberg, tại thành phố Mainz, bên bờ sông Ranh thuộc nước Đức. Cuốn sách đầu tiên in chữ rời bằng gỗ này chính là cuốn Kinh thánh (Bibles) vào khoảng năm 1490.
Cùng với công nghệ mới sẵn có, các nhà in trên toàn châu Âu, tức là các nhà xuất bản thời đó, nhanh chóng nhận ra rằng xuất bản sách có thê đem lại thu nhập đáng ké cho họ và ngành sách hiện đại đã được thiết lập. Tuy nhiên, việc xuất hiện máy in trong tình hình đó đã làm tăng rủi ro và tăng các chi phí trả trước của nhà xuất bản. In ấn thì đắt đỏ, số lượng ấn bản lớn của mỗi đầu sách in bằng máy in chỉ bán được với giá tương đối thấp trong một thời gian dài, thậm chí có một vài trường hợp không ban được. Cạnh tranh giữa các nhà in sách trở nên gay gắt.
Không lâu sau khi máy in xuất hiện ở châu Âu, tất cả các nhà lãnh đạo thế tục lẫn tôn giáo bắt đầu điều chỉnh ngành in ấn. Họ nhận thức rat rõ ảnh hưởng to lớn của các ấn bản được phân phối rộng rãi đến quan niệm của công chúng. Họ dành cho các nha in mà họ ưng ý các ưu tiên đặc quyền xuất bản các tác phẩm cụ thé. Cũng bằng cách đó, họ có thể ngăn cản việc công bố các tác phẩm mà họ cho là có nội dung không phủ hợp cũng như có thé kiểm duyệt các ấn ban.
Chang han, ở Anh năm 1557, công ty Stationers nhận được giấy phép của Hoang gia cho họ hưởng sự độc quyên in ấn và xuất bản nội địa. Công ty Stationers đã giữ quyền đó trong suốt 150 năm. Vào thời điểm này, tại Anh và những nơi khác ở châu Âu, tác giả có quyền được thanh toán cho tác phâm của mình, dù đây mới chỉ là quyền tập quán chứ chưa phải là quyền pháp lý. Tuy nhiên, nếu họ muốn tác phẩm của mình được xuất bản thì họ phải bán nó cho một nhà in được chính phủ ủy quyền.
Do đó, tác giả có quyền được xuất ban tác pham mà nội dung được giữ nguyên hoặc chi được sửa đôi khi được sự đồng ý của tác giả. Quyền trên của tác giả được công nhận một cách không chính thức, một phân vì các nhà xuât bản đương dai tin rang nêu họ xuât bản 11 nguyên bản như ý định ban đầu của tác giả thì thu nhập kinh tế trên tác phẩm đó sẽ tối đa. Vì vậy, sau khi bán quyền sao chép một trong những tác phẩm của minh, tác gia van giữ lại các phương tiện kiêm soát nó. Việc đó như một điều luật quy định cho phép tác giả được bảo vệ các quyền lợi liên quan đến việc phô biến hay sử dung tác phẩm của minh và ngăn ngừa sự sao chép lậu hay sử dụng trái phép.
Đây chính là cơ sở cho sự ra doi, hình thành dao luật bản quyền sau này. Từ Đạo luật Anne đến Công ước Berne Vào thé ky XVII, quyền lực nghị viện Anh đã vượt lên trên quyền lực quân chủ chuyên chế, việc kiểm duyệt sách báo của chính phủ cũng nhẹ đi phan nào và triết lý chủ nghĩa cá nhân nổi lên. Bảo hộ pháp lý bản quyền của tác giả bắt đầu được nhiều người coi là có giá trị theo luật tự nhiên hơn. Cùng lúc đó, sự kiểm soát chặt chẽ thị trường sách trong nước Anh của công ty Stationers bắt đầu suy yếu.
Nhằm mang đến cho tác giả có độc quyền trên tác phẩm của mình và độc quyền đó được bảo vệ trong một thời gian nhất định, đạo luật Anne (Statude of Anne) - dao luật bản quyền đầu tiên trên thé giới đã ra đời năm 1710. Do đó, nước Anh được coi là nước đầu tiên trên thế giới đặt ra luật lệ để kiểm soát việc in ấn và phát hành sách. Theo Đạo luật Anne, tác giả và bất kỳ người nào khác, không chỉ là nhà in như trước đây, đều có thé sở hữu bản quyền. Thời hạn của bản quyền được giới han là 20 năm đối với những bản quyền đã có hiệu lực khi đạo luật này được ban hành và 40 năm đối với tất cả các sách mới.
Đồng thời, có điều khoản quy định thời hạn 40 năm này có thê được gia hạn thêm 40 năm nữa nếu tác giả của đầu sách có liên quan vẫn còn sống khi thời hạn kỳ trước kết thúc. Để được bảo hộ bản quyền theo luật này, giống như trước đây được bảo hộ theo bản quyền của công ty Stationers, chủ thể phải tuân thủ một số thủ tục sau: tác giả phải đăng ký sách dưới tên của chính mình và cấp miễn phí một số ấn bản sách cho một vài trường đại học và thư viện Anh (hay còn gọi là sách lưu chiêu). 12 Khi xem xét Đạo luật Anne, Ithiel de Sola Pool đã viết trong tác phẩm “Công nghệ tự do về bản quyền” một cách cô đọng như sau: “Quan niệm mới về sở hữu trí tuệ thé hiện trong bản quyền có nguồn gốc từ công nghệ in ấn. Máy in là một cái phéu dé kiểm tra và kiểm soát các ấn bản.
Trong quá trình chuyên từ ngòi bút của tác giả sang tay độc giả, máy in là vị trí hợp logic để áp dung sự kiểm soát, du nó là kiểm duyệt các lời lẽ bang bồ thần thánh, mam mống nổi loạn hay bảo hộ sở hữu trí tuệ của tác giả” [66, tr. Đối với các hình thức nhân bản không có một vị trí dễ kiểm soát như máy in thì van dé bản quyền không được áp dụng. Sau khi Đạo luật Anne được ban hành ở nước Anh, các nước phương Tây khác lần lượt ban hành các đạo luật về bản quyền, nhất là vào những năm cuối của thé ky XVIII và đầu thế ky XIX như Dan Mach (1741), Mỹ (1790), Pháp (1791). hoặc một số nước châu Mỹ Latinh sau khi dành được độc lập như Chi lê (1834), Peru (1849), Argentina (1869) và Mexico (1871).
Các đạo luật quốc gia này chỉ bảo vệ bản quyền trong giới hạn lãnh thé của mỗi nước. Nói chung, Đạo luật Anne có sự kết hợp cả truyền thống luật La Mã, như ở Pháp và các nước châu Âu lục địa khác, lẫn truyền thống pháp luật Anglo- Saxon (luật Anh-Mÿ). Những luật bản quyền này cùng với truyền thống pháp luật của nước sở tại đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các đạo luật bản quyền ở các nước thuộc địa của các dé quốc. Dù theo truyền thống nào thì các đạo luật này đều cho tác giả quyền bán các quyền kinh tế chứa đựng bên trong bản thảo của họ cho nhà xuất bản.
Điểm khác biệt đáng chú ý trong việc bảo hộ tinh thần (tiếng Pháp gọi là droits d’auteurs) trong mỗi tác phẩm của họ là quyền được làm những việc như kiểm soát việc công bố hoặc giới thiệu tác phẩm tới công chúng, kiểm soát tính chân thực của tác phẩm, đòi quyền ghi tên tác giả lên tác phẩm hoặc dé cho tác phẩm vô danh, hoặc không cho phép lưu hành các tác phâm của mình. Tại những nước theo truyền thống luật La Mã, những nhà triết học cá nhân chủ nghĩa ủng hộ quan điểm cho rằng các quyên tinh than của tác giả có cơ sở trong luật tự nhiên và đa số họ đều coi những luật này là vĩnh viễn và không thể chuyên 13 nhượng được. Chúng cũng được bảo hộ công khai theo luật bản quyền. Các nước theo truyền thống pháp luật Anh - Mỹ cũng bảo hộ quyền tinh thần của tác giả, nhưng nói chung không bao quát bằng các nước theo luật La Mã, nó được quy định bên ngoài luật bản quyền.
Từ Đạo luật Anne trở đi, các đạo luật bản quyền Anglo- Saxon đặc biệt có tính thương mại. Vi bản quyền chủ yếu là van đề quốc nội của các nước châu Âu nên hau hết sách chỉ lưu thông trong phạm vi quốc gia mà nó được viết ra và xuất bản.