phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận đƣợc trình bày thành 3 chƣơng: C ƣơn 1: Khái quát về thị xã Quảng Ngãi và phong trào đấu tranh chính trị ở thị xã Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi trƣớc năm 1954. C ƣơn : Diễn tiến phong trào đấu tranh chính trị ở thị xã Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nƣớc (1954 – 1975). C ƣơn 3: Một số nhận xét về phong trào đấu tranh chính trị ở thị xã Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nƣớc (1954 – 1975). e 7 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THỊ XÃ QUẢNG NGÃI VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ Ở THỊ XÃ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI TRƢỚC NĂM 1954 1.
Khái quát về thị xã Quảng Ngãi 1. Lịch sử hình thành và tên gọi qua các thời kỳ Vào thời nhà Nguyễn, năm 1807 đã xây dựng trấn Quảng Ngãi trên diện tích khoảng 26 ha tại xã Chánh Mông, thuộc huyện Chƣơng Nghĩa. Đến năm 1896, đƣờng xuyên Việt chạy ngang qua xã, nên đổi tên là xã Chánh Lộ. Ngƣời Pháp đặt tên là Chánh Lộ phố, đƣợc gọi là vùng trung tâm trấn.
Chánh Lộ phố có hai phƣờng: Bắc Lộ phƣờng và Nam Lộ phƣờng. Đến năm 1929 mở rộng lên ngã ba Thu Lộ, thành lập thêm Thu Lộ phƣờng. Cách mạng Tháng Tám 1945, trên cơ sở ba phƣờng của Chánh Lộ phố, chính quyền cách mạng tỉnh quyết định thành lập thị xã Quảng Ngãi. Đến ngày toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, các cơ quan tỉnh và đồng bào nội thị chuyển ra nông thôn, thị xã Quảng Ngãi sáp nhập với làng Ngọc Án, gọi là xã Nghĩa Lộ, trực thuộc huyện Tƣ Nghĩa.
Thời Việt Nam Cộng hòa, chính quyền Sài Gòn tách Bắc Lộ phƣờng thành hai, đặt ra bốn ấp: Bắc Môn, Bắc Lộ, Nam Lộ, Thu Lộ, lập nên xã Cẩm Thành. Để tiện cho việc chỉ đạo cuộc kháng chiến, tháng 6 năm 1965, Tỉnh ủy Quảng Ngãi quyết định tái lập thị xã Quảng Ngãi trực thuộc tỉnh, gồm 4 ấp: Bắc Môn, Bắc Lộ, Nam Lộ, Thu Lộ, lập nên xã Cẩm Thành. Và các thôn của hai xã Nghĩa Lộ, Nghĩa Dõng, cùng một số thôn của các xã Nghĩa Điền, Tịnh Ấn. Ngày 24 tháng 3 năm 1975, thị xã Quảng Ngãi đƣợc giải phóng hoàn toàn.
Đơn vị hành chính đƣợc điều chỉnh bao gồm 4 phƣờng, 3 xã nhƣ sau: ấp Bắc Môn đổi thành phƣờng Lê Hồng Phong, ấp Bắc Lộ đổi thành phƣờng Trần Hƣng Đạo, ấp nam Lộ đổi thành phƣờng Nguyễn Nghiêm, xã Nghĩa Lộ, xã Nghĩa Điền, e 8 xã Nghĩa Dõng. Tháng 2 năm 1976, hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình. Đồng thời, thị xã Quảng Ngãi hợp nhất với huyện Tƣ Nghĩa thành thị xã Quảng Nghĩa thuộc tỉnh Nghĩa Bình. Tuy nhiên, tỉnh lỵ tỉnh Nghĩa Bình đặt tại thị xã Quy Nhơn (nay là thành phố Quy Nhơn).
Do bị mất vai trò là tỉnh lỵ trong thời gian dài (1975-1989), thị xã Quảng Nghĩa mất đi nhiều cơ hội phát triển nên dần thua kém các đô thị khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Ngày 30 tháng 6 năm 1989, tỉnh Quảng Ngãi đƣợc tái lập từ tỉnh Nghĩa Bình cũ, thị xã Quảng Ngãi trở lại là tỉnh lỵ tỉnh Quảng Ngãi Ngày 23 tháng 12 năm 2002, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 1711/QĐ-BXD công nhận thị xã Quảng Ngãi là đô thị loại III Đặc biệt Ngày 26 tháng 8 năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định 112/2005/NĐ-CP thành lập thành phố Quảng Ngãi trên cơ sở toàn bộ diện tích của thị xã Quảng Ngãi Ngày 12 tháng 12 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 123/NQ- CP điều chỉnh, mở rộng địa giới hành chính thành phố Quảng Ngãi Chuyển toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị trấn Sơn Tịnh và 9 xã: Tịnh Ấn Tây, Tịnh Ấn Đông, Tịnh An, Tịnh Long, Tịnh Châu, Tịnh Thiện, Tịnh Khê, Tịnh Hòa, Tịnh Kỳ thuộc huyện Sơn Tịnh và 3 xã: Nghĩa Hà, Nghĩa Phú, Nghĩa An thuộc huyện Tƣ Nghĩa về thành phố Quảng Ngãi quản lý Thành lập phƣờng Trƣơng Quang Trọng trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị trấn Sơn Tịnh Nhƣ vậy, Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, thành phố Quảng Ngãi có 16.015,34 ha diện tích tự nhiên, 260.252 nhân khẩu với 23 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 9 phƣờng và 14 xã, giữ ổn định đến nay. Ngày 24 tháng 9 năm 2015, Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định 1654/QĐ-TTg công nhận thành phố Quảng Ngãi là đô thị loại II. Thành phố Quảng Ngãi hiện nay là đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh e 9 Quảng Ngãi.
Thành phố Quảng Ngãi nằm ở phía đông tỉnh, phía đông, tây, nam đều giáp huyện Tƣ Nghĩa, phía Bắc giáp huyện Sơn Tịnh, có quốc lộ 1 chạy qua và đƣờng sắt thống nhất chạy qua.2 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 1.1 Vị trí địa lí. Thị xã Quảng Ngãi trƣớc đây là xã Chánh Lộ thuộc phủ Tƣ Nghĩa nằm ở tọa 15°03 độ vĩ bắc và 180°48 độ kinh đông. Phía Bắc giáp huyện Sơn Tịnh, phía Đông, Tây, Nam giáp huyện Tƣ Nghĩa. Trƣớc tháng 8 năm 1945, diện tích xã Chánh Lộ bao gồm cả thôn An Phú và bãi cát này giao lại cho xã Tịnh An huyện Sơn Tịnh Thị xã Quảng Ngãi cách thủ đô Hà Nội 883km, cách thành phố Hồ Chí Minh 835km.
Thị xã nằm trên trục đƣờng giao thông huyết mạch Bắc- Nam cả đƣờng sắt, đƣờng bộ và đƣờng thủy( cách cảng Sa Kỳ khoảng 18km ).2 Điều kiện tự nhiên Thị xã Quảng Ngãi nằm trong địa hình đồng bằng ven biển, thấp và bằng phẳng, hƣớng dốc chủ yếu từ Tây sang đông, độ cao so với mặt nƣớc biển từ 4 đến 9km. Khu vực phía Tây và thành cổ có độ cao trung bình 8m, ít bị ngập lụt. Cũng nhƣ các tỉnh ven biển Trung Trung Bộ, thị xã Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi nằm trong vùng khí hậu á nhiệt đới và khu vực gió mùa Đông Nam Á. Mỗi năm có hai mùa nắng và mƣa rõ rệt.
Mùa mƣa từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau. Lƣợng mƣa trung bình hằng năm là 2. Mƣa tập trung cao nhất váo các tháng 9, 10, 11 chiếm 70% lƣợng mƣa trong cả năm. Mùa mƣa thƣờng có gió bắc - tây bắc và bão lụt, gây ảnh hƣởng xấu đến sản xuất và đời sống nhân dân.
Mùa nắng từ tháng 2 đến tháng 8. Số giờ nắng trung bình hằng năm là 2043 giờ. Mùa nắng thƣờng có gió đông - đông nam đem không khí mát lành cho con ngƣời, nhƣng có nhiều lúc gió tây nam thổi hai ba ngày liền với tốc độ 14 - 15km/giờ, mang theo khí nóng oi bức. Xung quanh thị xã Quảng Ngãi có nhiều núi thấp bao bọc.
Riêng trong e 10 lòng thị xã có núi Bút và núi Ông. Núi Bút ở phía nam thị xã, sát đƣờng quóc lộ 1A trƣớc đây cao khoảng 61m, nay còn khoảng hơn 50m. Đứng trên đỉnh núi Bút có thể nhìn bao quát thị xã Quảng Ngãi. Còn núi Ông trƣớc đây cao khoảng 39m, nay còn khoảng 28m.
Thị xã Quảng Ngãi có 3 con sông lớn chảy qua: sông Trà Khúc phía Bắc, sông Bầu Giang phía Nam và sông Kênh phía Tây, Ở thị xã Quảng Ngãi hầu nhƣ không có hồ nƣớc tự nhiên đáng kể, chỉ có những hồ nƣớc đƣợc đào đắp phục vụ việc thủy điện, thủy lợi. Biển ở thị xã Quảng Ngãi, có biển Mỹ Khê nay nằm ở xã Tịnh khê có thềm lục địa tƣơng đối hẹp, bờ biển tƣơng đối dài, có nhiều cửa biển, vùng biển ven bờ nằm bên vùng nƣớc sâu của trũng biển Đông, do đó có điều kiện phát triển mạnh. Khoáng sản trong khu vực thị xã Quảng Ngãi tƣơng đối ít, chủ yếu nằm ở những vùng lân cận thị xã, đƣợc chia làm bốn nhóm chính: Khoáng sản kim loại ( sắt, nhôm, thiếc, vàng,…), khoáng chất công nghiệp: ( than bùn, graphit,…), vật liệu xây dựng: ( đá ốp lát, đá xây dựng,…), nƣớc khoáng: ( nƣớc khoáng, nƣớc nóng,…).3 Điều kiện kinh tế - xã hội 1.1 Đặc điểm kinh tế Trƣớc năm 1955, tuy đã từng mang tên Chánh Lộ phố, rồi thị xã Quảng Ngãi, mảnh đất này chủ yếu vẫn mang tính chất nông thôn với nền kinh tế nông nghiệp. Trên 90% dân cƣ vùng ven và 30% dân cƣ nội thị là nông dân lao dộng.
Diện tích đất nông nghiệp toàn thị xã là 2.007ha, trong đó trồng lúa 746ha, trồng hoa màu, mía 580ha, đất vƣờn 751ha. Cây lƣơng thực chính ở thị xã Quảng Ngãi vẫn là cây lúa nƣớc. Trƣớc kia nông dân thị xã Quảng Ngãi dùng các giống lúa cũ và các phƣơng thức cổ truyền để canh tác. Ngoài trồng cây lúa nƣớc, ngƣời dân còn trồng khoai lang, bắp, mỳ,….
Nhƣ vậy, từ lâu nông nghiệp đã phát triển tƣơng đối toàn diện e 11 Cùng với nông nghiệp, trƣớc kia ngƣời dân ở thị xã đã có nhiều nghề thủ công truyền thống nhƣ: ép mía nấu đƣờng, một số nghề thủ công nhƣ gốm, đánh bắt hải sản,… Ngoài ra còn có nghề tiện gỗ, nghề mộc khá tỉnh xảo, sản xuất đồ dùng bằng thủy tinh,…. Về công nghiệp giai đoạn 1954 đến 1975 vẫn còn thô sơ lạc hậu do chiến tranh, trừ một số công sở trong thành, một số nhà xƣởng của nhà giàu,… Ngoài ra có công nghiệp mía đƣờng, công nghiệp chế biến nông sản và muối, thủy hải sản,… Tiểu thủ công nghiệp ở thị xã Quảng Ngãi đƣợc hình thành và tồn tại khá sớm. Nghề thủ công ở thị xã Quảng Ngãi hầu hết đều có nguồn gốc từ những ngƣời nông dân miền Bắc di cƣ vào Nam trong các thế kỷ XV, XVI và một bộ phận nhỏ là ngƣời hoa truyền vào ( làm kẹo, làm nhang ).Một số làng nghề tiêu biểu nhƣ nghề làm gốm, đúc đồng, nghề rèn, chế tác đá, nghề mộc,… Về thƣơng nghiệp, ở thị xã Quảng Ngãi trƣớc năm 1945 chủ yếu là tiêu thƣơng, buôn gánh, bán bƣng, làm dịch vụ ăn uống giải khát. Nhờ có quan hệ buôn bán với ngƣời Hoa ở Thu Xà, với thƣơng lái ở Cổ lũy, thƣơng nghiệp thị xã phát triển dần lên.
Chợ tỉnh là chợ lớn nhất, trở thành đầu mối giao lƣu ở thị xã và các huyện lỵ, cũng nhƣ các tỉnh với nhau. Các nhà buôn lớn, buôn sỉ đều nằm trong tay Hoa Kiều, Ấn Kiều. Thƣơng gia ngƣời Việt tại thị xã chỉ có mấy hiệu buôn vừa và nhỏ. Là trung tâm của vùng châu ổ sông Trà Khúc, thƣơng nghiệp thị xã mở rộng với bên ngoài qua bến Tam Thƣơng, có ba đƣờng buôn bán tấp nập.
Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dƣơng, đất nƣớc tạm thời bị chia cắt hai miền Nam - Bắc.