CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, LOẠI HÌNH VÀ VAI TRÒ CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 1. Khái niệm nuôi trồng thủy sản Nuôi trồng thủy sản là hoạt động sản xuất dựa trên cơ sở kết hợp giữa tài nguyên thiên nhiên sẵn có (sông ngòi, mặt nước biển, ao hồ, đầm phá, ruộng trũng, khí hậu,…) với hệ sinh vật sống dưới nước (chủ yếu là cá, tôm, nhuyễn thể và các thủy sản khác…) có sự tham gia trực tiếp của con người. Hay nói một cách cụ thể hơn, nuôi trồng thủy sản là nuôi các loại động vật (cá, tôm nhuyễn thể…) và thực vật ( rong biển…) trong các môi trường nuôi như nước ngọt, nước lệ và nước mặn.
Đặc điểm nuôi trồng thủy sản - Nuôi trồng thủy sản mang tính vùng miền. Ngành nuôi trồng thủy sản phát triển mọi vùng miền trong cả nước từ đồng bằng, trung du, miền núi cho đến các vùng ven biển. Ở đâu có mặt nước là ở đó có thể phát triển nghề nuôi trồng thủy sản. Nhưng mỗi vùng có điều kiện địa hình, khí hậu, thời tiết khác nhau nên có sự khác nhau về đối tượng nuôi, kỹ thuật chăm sóc, phương thức nuôi, hình thức nuôi.
Từ đặc điểm này đòi hỏi các vùng, các địa phương phải nắm bắt rõ điều kiện, thổ nhưỡng của từng vùng đất nuôi trồng thủy sản trên địa bàn để phát triển nuôi trồng hợp lý đem lại hiệu quả kinh tế cao. Do đó, 10 trong công tác quản lý và người nuôi cần lưu ý đến vấn đề quy hoạch và thực hiện quy hoạch đồng bộ cho phù hợp với tưng khu vực, từng vùng lãnh thổ. - Thủy vực vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được. Đối tượng nuôi trồng thủy sản là các sinh vật gắn với đất đai và diện tích mặt nước.
Nếu không có đất đai, diện tích mặt nước hay nói cách khác là thủy vực thì không thể tiến hành nuôi trồng thủy sản được. Thủy vực không những là tư liệu sản xuất mà là tư liệu sản xuất đặc biệt, khác với tư liệu sản xuất khác. Thủy vực có giới hạn, có vị trí cố định, còn sức sản xuất thì không giới hạn. Do đó, nếu chúng ta biết sử dụng hợp lý tài nguyên thủy vực bằng cách cải tạo, bảo vệ và bồi dưỡng thì thủy vực không những không bị hao mòn mà còn tốt hơn.
- Nuôi trồng thủy sản mang tính thời vụ. Nhân tố cơ bản quyết định thời vụ là quy luật sinh trưởng và phát triển của các đối tượng nuôi trồng, những biểu hiện chủ yếu của tính thời vụ được thể hiện: Tính thời vụ trong nuôi trồng thủy sản thường có xu hướng dẫn tới tính thời vụ trong việc sử dụng các yếu tố sản xuất nhất là sức lao động. Người lao động có lúc rất bận rộn nhưng cũng có những lúc nhàn rỗi. Do điều kiện lao động thủ công, điều kiện tự nhiên, thời tiết diễn biến phức tạp và bất thường do đó tính thời vụ trong nuôi trồng thủy sản càng gay gắt nên nhiều vấn đề phức tạp trong tổ chức quản lý sản xuất và kinh doanh.
Cùng một đối tượng nuôi trồng thủy sản nhưng ở những vùng có điều kiện khí hậu, thời tiết khác nhau thường có mùa vụ sản xuất khác nhau. Đối với mỗi loại đối tượng nuôi trồng, các giai đoạn sinh trưởng và phát triển diễn ra trong các khoảng thời gian khác nhau của mùa vụ sản xuất nên đòi hỏi thời gian, hình thức và mức độ tác động trực tiếp của con người tới chúng cũng khác nhau. - Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản là những cơ thể 11 sống. Chúng sinh trưởng, phát triển, phát sinh và phát dục theo các quy luật sinh học nên rất nhạy cảm với môi trường đặt biệt khi có sự biến động bất thường về thời tiết như: bão, mưa phùn, gió mùa đông bắc, mưa giông,…đều gây ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống của chúng và năng xuất thu hoạch về sau.
Do đó trong quá trình sản xuất chúng luôn đòi hỏi sự tác động tích cực của con người và tự nhiên để sinh trưởng và phát triển. Vì thế, có hàng loạt các vấn đề cần nghiên cứu, giải quyết để đạt năng xuất cao trong nuôi trồng thủy sản như: nâng cao chất lượng con giống, quản lý chất lượng môi trường và xây dựng các quy trình sản xuất tiên tiến cho năng suất cao. - Sản phẩm thuỷ sản sản xuất đạt chất lượng được giữ lại làm giống tham gia vào quá trình tái sản xuất. Trong nuôi trồng thủy sản, một số sản phẩm đạt chất lượng được giữ lại để tái sản xuất cho chu kỳ kế tiếp.
Chính do đặc điểm riêng cơ bản này mà trong quá trình nuôi trồng thủy sản phải quan tâm đến việc sản xuất ra các loại giống tốt. Đồng thời ngành thủy sản phải quan tâm xây dựng một hệt thống giống quốc gia, hệ thống giống cho từng vùng, từng khu vực. Các hình thức nuôi trồng thủy sản a. Phân loại theo hình thức nuôi - Hình thức nuôi trong ao: Đây là hình thức phổ biến và xuất hiện sớm nhất ở Việt Nam.
Từ thời xa xưa, người dân Việt Nam đã biết đào ao thả cá, sau đó họ xây dựng các mô hình sản xuất tổng hợp theo VAC. Hình thức này được giới hạn trong một phạm vi nhất định tùy theo diện tích ao nuôi và người dân có thể áp dụng phương thức nuôi khác nhau từ quảng canh đến thâm canh. - Hình thức nuôi trong lồng bè ở các mặt nước lớn ở đảo, sông ngòi, vịnh hay ven bờ. Đây là hình thức nuôi phổ biến cả ở các thủy vực khác nhau (ngọt, lợ, mặn).
Hình thức này tùy theo thủy vực như hồ đập chứa hay lưu vực 12 các dòng sông hoặc trên các vịnh, đảo hay ven bờ, nơi có độ sâu khoảng 3m trở lên. Đây là hình thức được phát triển rất mạnh trong 6 năm trở lại đây. Người dân tận dụng điều kiện mặt nước để phát triển nuôi trồng thủy sản và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hình thúc này có thể áp dụng cho nuôi bán thâm canh và thâm canh.
- Hình thức nuôi chắn sáo, đăng quầng: Là hình thức nuôi có giới hạn bằng cách chắn đăng, sáo ở các lưu vực có mặt nước lớn nhưng có độ sâu có giới hạn nhất định từ 4-6m. Trên các thủy vực này người dân có thể thiết kế các chắn đăng, sáo bằng vật liệu rẻ tiền để nuôi cá hay các đối tượng hỗn hợp. Hình thức này có thể áp dụng cho nuôi quảng canh đến thâm canh nhưng trong thực tế là nuôi quảng canh đến quảng canh cải tiến. Với những vùng nuôi như mặt nước lớn ở các hồ thủy điện có độ sâu từ 4-6 m hay các vùng đầm phá có độ sâu từ 2-3 m.
- Hình thức nuôi kết hợp các đối tượng đăng quầng trong ao: Đây là hình thức nuôi áp dụng cho các mô hình bán thâm canh (BTC) hay quản canh cải tiến (QCCT), người dân có thể nuôi ghép các đối tượng cá, tôm, cua, rong biển và cả nhuyễn thể. Hình thức nuôi hỗn hợp này đã mang lại hiệu quả kinh tế, môi trường và an toàn dịch bệnh hơn. Ở các vùng nội đồng hình thức nuôi hỗn hợp các đối tượng cá nước ngọt truyền thống khá phổ biến. Phân loại theo loại hình nuôi - Nuôi quảng canh: Là hình thức nuôi dựa vào hoàn toàn nguồn giống và thức ăn tự nhiên.
Mật độ thủy sản trong ao thường thấp, diện tích ao đầm lớn để đạt sản lượng cao. Ưu điểm của hình thức này là vốn vận hành không cao vì không phải bỏ chi phí nua giống và thức ăn. Kích cở thủy sản thu hoạch lớn, giá bán cao, cần ít nhân lực trên một đơn vị sản xuất, thời gian nuôi không dài vì con giống đã lớn. 13 Nhược điểm của hình thức này là năng suất và lãi thấp, thường cần diện tích lớn, nên khó khăn trong khâu vận hành và quản lý, đặc biệt với những ao đầm tự nhiên có diện tích lớn, hình dạng phức tạp.
Hiện nay mô hình này đang bị hạn chế vì giá đất và công lao động cao. - Nuôi quảng canh cải tiến: Đây là hình thức nuôi dựa vào tự nhiên nhưng có bổ sung thêm giống và thức ăn ở mức độ thấp. Ưu điểm của hình thức này là chi phí vận hành thấp, có thể bổ sung thêm nguồn giống nhân tạo, giá bán cao, tăng được năng suất đầm nuôi. Mặt khác diện tích nuôi cũng được thu hẹp lại tạo điều kiện thuận lợi cho khâu chăm sóc, quản lý và thu hoạch.
Nhược điểm của hình thức này là bổ sung nguồn giống có kích thước lớn để trách hao hụt do địch hại nhiều trong ao, năng suất và lãi vẫn còn thấp. - Nuôi bán thâm canh: Đây là hình thức dùng phân bón để gia tăng lượng thức ăn tự nhiên trong ao, bằng thức ăn tươi sống như cám gạo…nguồn giống nuôi từ nguồn giống nhân tạo. Ưu điểm của hình thức này là hệ thống ao được xây dựng hoàn chỉnh, kích thước ao nhỏ nên dễ vận hành, quản lý, sản lượng thu hoạch lớn, chi phí vận hành thấp, thức ăn tự nhiên vẫn chiếm vị trí quan trọng. Nhược điểm của hình thức này là năng suất vẫn còn thấp so với diện tích ao sử dụng - Nuôi thâm canh: Đây là hình thức nuôi hoàn toàn dựa vào nguồn giống và thức ăn nhân tạo.
Thức ăn tự nhiên không đóng vai trò quan trọng mà chỉ có ý nghĩa về mặt môi trường. Ưu điểm của hình thức này là ao được xây dựng hoàn chỉnh, cấp và tiêu nước chủ động, trang thiết bị như máy móc, máy quạt nước, điện, đảm bảo hệ thống giao thông…đầy đủ dễ quản lý dễ vận hành. Nhược điểm là chi phí vận hành cao, lợi nhuận trên một đơn vị sản 14 phẩm thấp. - Nuôi siêu thâm canh: Đây là hình thức nuôi chủ yếu trong bể nước thuần hoàn hay nước chảy tràn, chủ động điều khiển hoàn toàn hệ thống nuôi.
Phân loại theo môi trường nuôi - Nuôi thủy sản nước ngọt: Là hoạt động kinh tế khai thác con giống trong vùng nước ngọt tự nhiên, sản xuất giống nhân tạo và ương nuôi các loài thủy sản (nơi sinh sản cuối cùng của chúng là trong nước ngọt) để chúng đạt tới kích cỡ thương phẩm. Ở đây, “nước ngọt” được hiểu là môi trường nước có độ mặn thấp hơn 0,5%o.[9] - Nuôi trồng thủy sản nước lợ: Là hoạt động kinh tế, nuôi ương các loại thủy sản trong vùng nước lợ ở vùng cửa sông, ven biển. Ở đây “nước lợ” được hiểu là môi trường có độ mặn dao động theo mùa.