CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về dịch vụ huy động vốn Dịch vụ huy động vốn là dịch vụ ngân hàng liên quan đến hoạt động huy động vốn và các dịch vụ thanh toán hỗ trợ cho dịch vụ huy động vốn. Nghiệp vụ huy động vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như xã hội. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại được phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế (Nguyễn Minh Kiều ,2015. Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại).
Như vậy có thể hiểu rằng dịch vụ huy động vốn là nghiệp vụ tiếp nhận các nguồn vốn nhàn rỗi từ các tổ chức và cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau để hình thành ra nguồn vốn hoạt động kinh doanh ngân hàng. Vì thế, với nghiệp vụ huy động vốn các ngân hàng phải có các công cụ chính sách, phương pháp và chương trình cụ thể nhằm thu hút tiền gửi của các tổ chức và cá nhân vào ngân hàng.2 Nguồn vốn của ngân hàng thương mại Cho đến nay, nếu không kể nguồn vốn chủ sở hữu (bao gồm vốn điều lệ và vốn bổ sung,.), nguồn vốn huy động của NHTM ở Việt Nam cũng như trên thế giới vẫn còn tập trung vào ba nguồn chính: nguồn vốn vay (vay của Ngân hàng Trung ương, vay của các tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trường tiền tệ,…), nguồn vốn ký thác (có nghĩa là nguồn tiền gửi của cá nhân và tổ chức, bao gồm tiền gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn và các hình thức tiền gửi có kỳ hạn), và nguồn vốn chiếm dụng (Nguyễn Văn Tiến, 2012).1 Nguồn vốn ký thác của dân cư và tổ chức 1.1 Tiền gửi thanh toán trên tài khoản vãng lai Tiền gửi thanh toán là loại tiền được ký thác vào ngân hàng chủ yếu dùng cho mục đích thanh toán không dùng tiền mặt. Chủ tài khoản được quyền ra lệnh cho ngân hàng chi trả trong phạm vi số tiền đang có trên tài khoản.2 Tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của cá nhân, tổ chức. Loại tiền này có hai đặc điểm sau: (i) Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng không nhằm mục đích sinh lợi tức mà mục đích lớn nhất là an toàn tài sản, do đó ngân hàng không nhất thiết phải trả lãi cho người gửi hoặc trả lãi thấp mang tính tượng trưng.
(ii) Đây là loại tiền gửi mà khách hàng có thể gửi tiền vào và rút tiền ra bất cứ lúc nào nên khi ngân hàng sử dụng làm vốn kinh doanh thì rủi ro cao hơn các loại tiền gửi khác, do đó phải duy trì dự trữ nhiều hơn so với các loại tiền khác.3 Tiền gửi có kỳ hạn Tiền gửi có kỳ hạn là tiền của cá nhân hoặc tổ chức ký thác vào NHTM có sự thỏa thuận về thời hạn rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng. Tiền gửi có kỳ hạn có những đặc điểm sau: + Người gửi không được rút tiền trước hạn. Nếu người gửi muốn rút tiền trước thời hạn thì ngân hàng có quyền từ chối hoặc ngân hàng đồng ý cho người gửi được rút tiền trước hạn nhưng người gửi chỉ được hưởng lãi suất tiền gửi thấp thường bằng tiền gửi không kỳ hạn. Đây là nguồn tiền gửi ổn định nên ngân hàng thường sử dụng nguồn tiền này để cho vay.
+ Mục đích của người gửi là sinh lời nên ngân hàng phải trả lãi cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn và lãi suất này là lãi suất cố định. Tùy thuộc vào kỳ hạn của tiền gửi khác nhau mà lãi suất sẽ khác nhau. Hiện nay, các NHTM Việt Nam đang áp dụng hai loại tiền gửi định kỳ: (i) Tiền gửi định kỳ theo tài khoản. (ii) Tiền gửi định kỳ dưới hình thức phát hành các loại kỳ phiếu ngân hàng.
Các hình thức phát hành kỳ phiếu ngân hàng bao gồm: chứng chỉ tiền gửi, thẻ tiết kiệm, trái phiếu ngân hàng ,.2 Nguồn vốn vay 1.1 Vay từ các tổ chức tín dụng khác Các NHTM và các tổ chức tín dụng khác có thể vay vốn lẫn nhau theo nguyên tắc: 9 + Các tổ chức tín dụng phải hoạt động hợp pháp. + Việc cho vay và vay phải theo hợp đồng tín dụng. + Phải được bảo đảm bằng tài sản thế chấp, cầm cố hay xin bảo lãnh của Ngân hàng Trung ương.2 Vay trên thị trường tiền tệ Thị trường tiền tệ bao gồm thị trường mua bán các chứng từ có giá ngắn hạn, thị trường liên ngân hàng, thị trường hối đoái. Mặt hàng được trao đổi trên thị trường tiền tệ là tiền hoặc các chứng từ có giá trị như tiền.
Các công cụ lưu thông trên Thị trường tiền tệ bao gồm: tín phiếu kho bạc ngắn hạn, kỳ phiếu thương mại, tín phiếu của công ty tài chính, các hợp đồng vay mượn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng dưới sự điều tiết của Ngân hàng Trung ương, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm,. Các NHTM có thể tìm kiếm nguồn vốn hoạt động từ việc phát hành phiếu nợ để vay trên Thị trường tiền tệ. Khả năng vốn của các NHTM trên Thị trường tiền tệ phụ thuộc vào ba yếu tố: (i) mức độ chấp nhận của nhân dân đối với nó như một phương tiện thanh toán trong lưu thông; (ii) sự khuyến khích hay hạn chế của Ngân hàng Trung ương; (iii) hiệu quả của việc sử dụng vốn vay được.3 Vay của Ngân hàng Trung ương Vay của Ngân hàng Trung ương là nguồn vay sau cùng của các NHTM. Ngân hàng Trung ương chỉ được phép cho các NHTM vay ngắn hạn; Đây là điều cần thiết để Ngân hàng Trung ương có thể phản ứng nhanh trước những rối loạn có thể xảy ra trong hệ thống tiền tệ.
Ngân hàng Trung ương cấp tín dụng cho các NHTM qua hai hình thức chính: (i) Chiết khấu và tái chiết khấu hay còn gọi là tái cấp vốn; (ii) Thế chấp hay ứng trước có bảo đảm hay không bảo đảm; Điều kiện cho vay vốn của Ngân hàng Trung ương đối với các NHTM dễ hay khắt khe là phụ thuộc vào chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ, uy tín, chất lượng hoạt động tín dụng của mỗi NHTM. 10 Ở Việt Nam hiện nay, NHNN cho các NHTM vay dưới các hình thức sau: - Cho vay bổ sung nguồn vốn tín dụng ngắn hạn. Đây là hình thức tài trợ vốn theo kế hoạch, và chỉ phân phối cho các NHTM có vốn Nhà nước. - Chiết khấu và tái chiết khấu trái phiếu kho bạc, thương phiếu và các chứng từ có giá hoặc cho vay lại theo các khế ước mà các NHTM đã cho khách hàng vay chưa đến hạn.
- Cho vay bổ sung vốn thanh toán bù trừ của các tổ chức tín dụng.3 Vốn chiếm dụng Ngân hàng có thể sử dụng các loại tiền gửi nghĩa vụ của khách hàng trong quá trình tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt (đó là các khoản tiền khách hàng ký quỹ để bảo chi séc, mở thư tín dụng bảo - lãnh ngân hàng,…) để tạm thời đáp ứng nhu cầu vốn của ngân hàng.3 Vai trò của huy động vốn đối với các ngân hàng thương mại 1.1 Huy động vốn ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại NHTM sử dụng nguồn vốn huy động được để cho vay, đầu tư, mua sắm tài sản cố định, dự trữ theo quy định,…Do đó, huy động vốn ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh lời của NHTM thông qua danh mục tài sản (cả về quy mô và cô cấu) mà nguồn vốn huy động được dùng để tài trợ. Nói cách khác, huy động vốn có ảnh hưởng rất lớn đối với NHTM trong việc quyết định danh mục tài sản đầu tư, nên nó có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh lời của NHTM.2 Huy động vốn ảnh hưởng đến rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại Nếu không có sự cân đối, phù hợp giữa cơ cấu sử dụng vốn và nguồn vốn huy động được sẽ dẫn đến nhiều rủi ro cho NHTM, bao gồm: rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro ngoại hối,… Rủi ro lãi suất Rủi ro về lãi suất phát sinh đối với NHTM khi kỳ hạn đến hạn của tài sản có không cân xứng với kỳ hạn đến hạn của tài sản nợ (được hiểu cho nguồn vốn huy động). 11 Nếu NHTM duy trì tài sản có có kỳ hạn dài hơn so với tài sản nợ thì NHTM luôn đứng trước rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với tài sản nợ. Cụ thể, trường hợp rủi ro lãi suất sẽ phát sinh nếu lãi suất huy động vốn bổ sung trong những thời gian tiếp theo tăng lên cao hơn lãi suất đầu tư tín dụng dài hạn.
Ngược lại, NHTM sẽ gặp rủi ro lãi suất tái đầu tư trong trường hợp tài sản có có kỳ hạn ngắn hơn so với tài sản nợ. Cụ thể, rủi ro lãi suất sẽ phát sinh trong trường hợp huy động vốn dài hạn với lãi suất cố định nhưng lại đầu tư cho các khoản tín dụng có lãi suất thả nổi điều chỉnh theo lãi suất thị trường. Ngoài rủi ro lãi suất tái tài trợ tài sản nợ (được hiểu cho nguồn vốn huy động) hoặc tái đầu tư tài sản có, thì lãi suất thị trường thay đổi NHTM còn có thể gặp rủi ro giảm giá trị tài sản. Bởi vì, giá trị thị trường của tài sản có hay tài sản nợ là dựa trên khái niệm giá trị hiện tại (gọi là hiện giá) của tiền tệ.
Do đó, nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu tài sản cũng tăng lên, do đó giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ giảm xuống. Ngược lại, nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị của tài sản có và tài sản nợ sẽ tăng lên. Như vậy, rủi ro về giảm giá trị tài sản khi lãi suất thay đổi thuộc loại rủi ro về lãi suất và dẫn đến thiệt hại về tài sản của ngân hàng. Như vậy, nếu NHTM duy trì cơ cấu tài sản có và tài sản nợ (được hiểu cho nguồn vốn huy động) với những kỳ hạn không cân xứng, thì NHTM phải chịu rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ tài sản nợ và tái đầu tư tài sản có; Hoặc rủi ro về lãi suất do giá trị tài sản thay đổi khi lãi suất thị trường biến động.