Chương I. TÔNG QUAN VỀ HIỆN TƯỢNG ĐỊNH XỨ ANDERSON 1. Định xứ Anderson 1. Định xứ Anderson 1.
Mô hình Anderson 1. Sự tương tự giữa sóng điện tử và sóng cô điển trong hệ mất trật tự 1. Các quan sát thực nghiệm 1. Ảnh hưởng của mối tương quan trong hàm phân bố mất trật tự lên định xứ Anderson 1.
Tính chất lan truyền và định xứ sóng trong miền thời gian 1. Một vài quan sát thực nghiệm 1. Ứng dụng Chương 2. SỰ PHẢN XẠ PHỤ THUỘC THỜI GIAN TRONG SỰ CÓ MẶT CUA THẺ MÁT TRẬT TỰ TƯƠNG QUAN TÀM XA 2.
Thế mắt trật tự tương quan tầm xa 2. Mô hình và phương pháp 2. Hệ số phản xạ phụ thuộc thời gian 2. Phương pháp tính số Chương 3.
KÉT QUÁ VÀ THẢO LUẬN 3. Thế mắt trật tự không tương quan (ø =0) 3. Thế mắt trật tự tương quan tầm xa (#0) 3. Trường hợp a <1 3.
Truong hop a >1 Chuong 4. KET LUAN VA KIEN NGHI 4. Hướng phát triển đề tài Chuong 1. TONG QUAN VE HIEN TUQNG ĐỊNH XỨ ANDERSON 1.
Dinh xw Anderson 1. Dinh xw Anderson Tinh chat van chuyén trong chat ran, tinh dan dién va dan nhiét van con là một trong số những chủ đề hấp dẫn và gây tranh cãi nhất của vật lý chất đậm đặc. Trong trường hợp bỏ qua sự tương tác giữa điện tử — điện tử và giữa điện tử - dao động mạng, chuyên động của điện tử trong tỉnh thể hoàn toan tuần hoàn được mô tả dưới dạng sóng Bloch lan truyền, đưa đến sự truyền tải đạn đạo [15]. Thông thường, cả vật liệu tự nhiên và vật liệu nhân tạo đều không lý tưởng nên một câu hỏi cơ bản được đặt ra là: điều gi sé xay ra trong tình huống thực tế khi mà tính tuần hoàn của tỉnh thé bi phá vỡ hoàn toàn bởi các tạp chất, khuyết tật hoặc các khiếm khuyết khác? Lý thuyết vận chuyền cô điển xem các vật liệu mất trật tự là những môi trường tán xạ nhiều lần, trong đó sóng Bloch mắt đi sự kết hợp pha trên thang đo độ dài cỡ quãng đường tự do trung bình Ï„ - khoảng cách trung bình mà điện tử di chuyền giữa các va chạm.
Do đó, việc di chuyển của điện tử trong những môi trường như vậy có thê được mô tả như là một quá trình khuếch tán. Giả thuyết này dẫn đến sự phụ thuộc của độ dẫn vào độ dài mẫu tuân theo định luật Ohm với độ dẫn Drude 2œ,„ [16]. Nhìn chung, những lập luận này vẫn đúng đối với sự chuyên động của điện tử trong các môi trường tán xạ nhiều lần có bản chất khác nhau. Tuy nhiên, vẫn còn phải trả lời câu hỏi liệu rằng cường độ tính mắt trật tự lớn hơn sẽ làm giảm độ dẫn (do quãng đường tự do ngắn hơn) hay dẫn đến các hiện tượng thú vị nào khác? Một bước đột phá trong việc đi tìm câu trả lời cho câu hỏi ở trên đã được đưa ra bởi Anderson [4], người đã đề xuất rằng ở một mức độ mắt trật tự nhất định thì chuyên động khuếch tán của điện tử sẽ dừng lại hoàn toàn.
Về khía cạnh hàm sóng, điều này có nghĩa là biên độ hàm sóng điện tử giảm theo hàm mũ khi khoảng cách (tính từ tâm định xứ) tăng. Anderson đã khảo sát chuyên động của điện tử trong mạng tỉnh thê trong khuôn khổ gần đúng liên kết chặt (nghĩa là sự chui ngầm chỉ cho phép xảy ra đối với các nút lân cận gần nhất), trong đó năng lượng trên nút được phân bồ ngẫu nhiên. Ngày nay, hiện tượng định xứ do tính mất trật tự gây ra được gọi là hiện tượng định xứ Anderson. Về cơ bản nó là kết quả của sự giao thoa sóng nên hiện tượng định xứ này không bị giới hạn chỉ đối với các điện tử mà còn có thê xảy ra đối với bat kỳ loại sóng lan truyền trong các môi trường không đồng nhất.
Thật vậy, ngày nay hiện tượng định xứ Anderson đã được quan sat bằng thực nghiệm đối với sóng điện từ, sóng âm thanh và sóng vật chất khi lan truyền trong môi trường mắt trật tự. Một lý thuyết định xứ đối với sóng cổ điển cũng đã được phát triển bởi John, người đã dự đoán sự định xứ của các dao động mạng trong môi trường đàn hồi mắt trật tự [17]. Đáng chú ý là hiện tượng định xứ thường được biều hiện dưới hai hình thức khác nhau, phụ thuộc vào mức độ mất trật tự trong hệ. Định xứ Anderson là một trường hợp cực đoan, thường được gọi là hiện tượng định xứ mạnh, xuất hiện trong những hệ mắt trật tự với sự có mặt của tạp chất tại mỗi nút mạng tinh thé.
Tuy nhiên, có những hiệu ứng đáng lưu ý khác của tính mắt trật tự vẫn tồn tại ngay cả khi tính mất trật tự yếu. Dưới những điều kiện thích hợp, quãng đường tự do trung bình ï có thể trở nên tương đương với bước sóng, tuân theo tiêu chuẩn có tên gọi là Ioffe-Regel [18]. Trong trường hợp này, có một số đường đi nhất định luôn luôn đồng pha và do đó cho thấy su giao thoa tăng cường. Hệ quả là cường độ tán xạ ngược được tăng cường một cách đáng kể và tương ứng, làm chậm quá trình vận chuyền.
Hiệu ứng này được gọi là định xứ yếu và được xem như là tiền thân của định xứ Anderson. Nó làm cơ sở cho một loạt các hiện tượng vận chuyền, chang han như độ lệch so với định luật Ohm và sự suy giảm của độ dẫn theo nhiệt độ tuân theo định luật hàm mũ trong những tắm kim loại mỏng [19]. M6 hinh Anderson Trong công trình nghiên cứu cơ bản của mình [4], Anderson da tiến hành khảo sát các tính chất động học của điện tử trên một mạng tinh thể trong phạm vi gần đúng liên kết chặt với Hamiltonian được cho bởi: = Dall DV ay) lm trong đó |/ ) là trạng thai Wannier dinh xt quanh nit mang thir |. Cac phan tir ma trận không chéo V,,, (1#m) mo tả sự nhảy điện tử giữa các nút mạng khác nhau.
Trong mô hình Anderson, như được phác họa trên hình 1.1, điện tử được phép chui ngầm giữa các nút mạng lân cận gần nhất với tốc độ không đổi W„=V và tính mất trật tự được đưa vào các phần tử đường chéo chính thông qua việc chọn năng lượng nút nhận các giá trị ngẫu nhiên trong khoảng ớ, <[-Ww /2,W/ 2|. Ở đây, W là tham số đặc trưng cho độ mạnh của tính mắt trật tự. Mô hình liên kết chặt Anderson (1.1) dẫn đến một bộ các phương trình mô tả tính chất động học đối với biên độ hàm sóng điện tử trên các nút mạng tinh thể W=®_ ø¡|l) „d3 ins = 8Ø, + V(Ø,.2) Thông thường, đề cho thuận tiện chúng ta đặt =l mà không mắt đi tính tổng quát của bài toán. Phương trình (1.2) thường được gọi là phương trình Schrö dinger roi rac va m6 tả các hiện tượng sóng trong cơ học lượng tử, vật chất cô —iEt đặc và quang học.
Các trang thái dừng ø(7)=,e “” tuân theo một bộ các phương trình, mà thực chất là bài toán trị riêng: Rự, =£/V, +V(,,¡ +V,¡) (1.3) Đáng chú ý rang Anderson da mé tả sự định xứ chủ yếu bằng thuật ngữ “sự vắng mặt tính khuếch tán” và không chú trọng nhiều đến lời giải tiệm cận của các hàm riêng của điện tử. Tuy nhiên, các trạng thái riêng lại đóng vai trò quan trọng trong việc định hình tính chất vận chuyển điện tử trong mạng. Các ¬n—n, l 2 ce trạng thái định xứ theo hàm mũ |, được đặc trưng bởi độ dài định xứ ế, nó có giá trị hữu hạn và phụ thuộc năng lượng, ý = (E). Khi chuyển sang trạng thái lan truyền (hay còn gọi là trạng thái không định xứ) thì đại luong 6 >.
C6 nhiéu dai lượng đặc trưng khác nhau mà thông qua đó chúng ta có thể xác định bản chất của một trạng thái riêng là định xứ hay lan truyền, chăng hạn như số tham gia (participation number), số mũ Lyaponov, hàm tương quan cường độ - cường độ. 10 ly Aw NN Hình 1. Mô hình Anderson một chiều. (Hình phía dưới) Mô hình Anderson trong gần đúng liên kết chặt đối với chuyển động của điện tử trên mạng mắt trật tự được phác họa.
Năng lượng trên nut ¢, được phân bố một cách ngẫu nhiên trong phạm vi [-W/ 2,W/ 2] và tốc độ nháy giữa hai nút lân cận gần nhất là V,„. (Hình phía trên) Do tính mắt trật tự, hàm sóng điện tử ự trở nên định xứ với các đuôi giảm theo hàm mũ (trong phạm vi một khoáng không gian được gọi là độ dài định xứ ¿) - đặc điểm chính của định xứ Anderson. Đối với hệ một chiều với tinh mat trật tự yếu (W <1) và không tương quan, bằng cách sử dụng các phương pháp giải tích gần đúng khác nhau, chăng hạn như phương pháp ma trận chuyền, lý thuyết ma trận ngẫu nhiên, kỹ thuật nhiễu loạn., độ dài định xứ đối với một trạng thái có năng lượng E được xác định theo biểu thức [20] 96J”—24E” #)=————_— .4) 11 Từ biểu thức (1.4), chúng ta đễ dàng suy ra rằng trạng thái định xứ yếu nhất xảy ra tại tâm vùng năng lượng (E=0) với độ dài định xứ có giá trị (0) =96. Trong trường hợp tính mắt trật tự mạnh (W >> l), lý thuyết nhiễu loạn dẫn đến €(0) =[InW /2]'.
Sự tương tự giữa sóng điện tử và sóng cỗ điển trong hệ mất trật tự Hàm sóng (?) của một điện tử có khối lượng và năng lượng E di chuyển trong môi trường với thế mất trật tự V() thỏa mãn phương trình Schrödinger không phụ thuộc thời gian [21] he K.5) 2m Trong phương trình trên, 4 là toán tử Laplace tác động trong không gian một, hai hoặc ba chiều. Trong trường hợp đơn giản nhất, V{(?) co thé được giả thiết tuân theo thống kê Gaussian voi (V@)WŒ))=(V?)8Œ-?). Tuy nhiên, nó có thể có dạng tùy ý của hàm phân bố mất trật tự trong những trường hợp tông quát hơn. Các điện tử di chuyền trong thế mat trật tự V(?) sẽ bị tán xạ sau khoảng thời gian tán xạ í.
Đối với thế mắt trật tự yếu, tốc độ tán xạ được cho bởi: - =zN()(V°) (1.6) S trong đó W(E) là mật độ trạng thái tại năng lượng E của điện tử. Trong kim loại, các điện tử mang dòng điện là những điện tử có năng lượng bằng năng lượng muc Fermi, E = E,. 12 Tương tự, biên độ sóng /(†) của một sóng đơn sắc cổ điển có tần số œ lan truyền trong môi trường không đồng nhất tuân theo phương trình Helmholtz l1; _ [4st Jwa=0 (1.