Chương 1: Tổng quan Trong chương này sẽ giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu để thực hiện đề tài, ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Nội dung của chương này sẽ khảo sát cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu, các giả thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu, các nghiên cứu trong nước và nước ngoài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Mục đích của chương này là trình bày quy trình nghiên cứu, mô tả mô hình nghiên cứu, giải thích các biến trong mô hình, thu thập và xử lý số liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này sẽ đưa ra các kết quả phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy.
Đồng thời sẽ đưa ra các nhận xét trong quá trình phân tích. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Chương này sẽ trình bày kết luận từ quá trình phân tích, từ đó đề xuất giải pháp nhằm quản trị rủi ro thanh khoản hiệu quả, đồng thời cũng nêu lên những hạn chế của đề tài trong quá trình nghiên cứu. c 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này cung cấp lý thuyết về thanh khoản, lý thuyết về quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại.
Cuối cùng là tổng quan, hệ thống các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến chủ đề nghiên cứu về rủi ro thanh khoản.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm: Theo luật Ngân hàng Pháp năm 1941 định nghĩa: “ Được coi là ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng đưới hính thức ký thác hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vu, chiết khấu hay tài chính”. Hay theo luật Ngân hàng của Ấn độ năm 1959 đã nêu; “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”. Và ở Việt Nam, trong Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH 12 được Quốc hội thông qua vào ngày 16/06/2010 thì phát biểu:”Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Luật này còn định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.2 Chức năng của ngân hàng thương mại: Theo Lê Trung Thành (2002) cho rằng ngân hàng thương mại có ba chức năng cơ bản: chức năng trung gian tín dụng, chức năng trung gian thanh toán, chức năng tạo tiền. Chức năng trung gian tín dụng: Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng c 5 trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn.
Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó mang đến lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng thương mại. Chức năng trung gian thanh toán: Các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán.
Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Chức năng “tạo tiền”: Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của ngân hàng thương mại là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Các chức năng của ngân hàng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau.
Đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín dụng.2 LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO 2.1 Khái niệm rủi ro Nguyễn Thị Thu Hằng (2009) cho rằng rủi ro là xác xuất gặp nguy hiểm từ bất kỳ một sự cố tiêu cực nào như bị thương, mất cắp.do tác động của các yếu tố gây nguy hiểm từ bên trong hoặc bên ngoài gây nên và điều này có thể phòng ngừa và hạn chế được bằng những dự tính từ trước. Dưới góc độ tài chính, rủi ro được định nghĩa là xác suất mà lợi nhuận thực tế thu được từ một khoản đầu tư ban đầu thấp hơn so với mong đợi. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được hiểu là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành một nghiệp vụ tài chính nhất định.2 Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng Theo Nguyễn Văn Tiến (2010) trình bày trong sách Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng-Nhà xuất bản thống kê cho rằng: - Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng phát sinh khi ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. - Rủi ro tỷ giá hối đoái: Là khả năng xảy ra tổn thất với ngân hàng khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá dự tính của ngân hàng.
- Rủi ro lãi suất: Là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi lãi suất thay đổi ngoài dự tính (cả lãi suất bên tài sản và bên nguồn vốn). Như vậy, rủi ro này là hậu quả của những thay đổi lãi suất. - Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản là rủi ro xảy ra khi ngân hàng thiếu ngân quỹ hoặc tài sản ngắn hạn mang tính khả thi để đáp ứng nhu cầu của người gửi và người vay. Hiểu theo cách khác, rủi ro thanh khoản xảy ra khi ngân hàng không dự trữ đủ tiền để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng.3 Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng Trịnh Hồng Hạnh (2015) cho rằng quản trị rủi ro thanh khoản là việc ngân hàng thương mại sử dụng hệ thống các cơ chế quản trị, giải pháp nghiệp vụ và công c 7 cụ kỹ thuật thích hợp nhằm duy trì thường xuyên trạng thái cân bằng cung và cầu thanh khoản, xử lý kịp thời những tình huống rủi ro thanh khoản nhưng vẫn đảm bảo khả năng sinh lời cho ngân hàng.
Quản trị rủi ro bao gồm các bước: Nhận dạng rủi ro; Đánh giá rủi ro; Kiểm soát phòng ngừa; Tài trợ rủi ro.3 LÝ THUYẾT VỀ THANH KHOẢN VÀ RỦI RO THANH KHOẢN Thanh khoản trên thị trường tài chính có nhiều ý nghĩa. Thanh khoản có nghĩa khả năng một công ty tài chính duy trì cân bằng giữa các nguồn tài chính vào và ra trong cùng một thời gian (Vento & Ganga, 2009). Theo tạp chí Basel Committee on Banking Supervision (Sep, 2008) cho rằng đối với ngân hàng, thanh khoản có nghĩa là đủ tài sản được dùng để trả nợ để đáp ứng kịp thời các nghĩa vụ tài chính khi các nghĩa vụ này đến hạn trong phạm vi tổn thất có thể chấp nhận được. Cũng theo Duttweiler (2009), có hai khía cạnh khác nhau về thanh khoản cần phải đặc biệt quan tâm, đó là thanh khoản tự nhiên và thanh khoản nhân tạo.
Trong đó thanh khoản nghĩa là các dòng lưu chuyển xuất phát từ tài sản hoặc nợ nhưng có thời gian theo luật định. Trong lĩnh vực ngân hàng, khi một giao dịch với khách hàng thường được tái tục, có thể với cùng số tiền hoặc với số tiền nhỏ hơn, lớn hơn thì nhìn chung nhóm khách hàng này thường hành động gần như theo cách có thể dự đoán được. Điều này không chỉ đúng với các tài sản mà còn đúng với các khoản nợ. Còn thanh khoản nhân tạo lại được tạo ra thông qua khả năng chuyển tài sản thành tiền mặt trước ngày đáo hạn.
Theo Trương Quang Thông (2012) thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với một chi phí hợp lý để phục vụ các nhu cầu hoạt động khác nhau của ngân hàng. Một tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi thành tiền thấp và thời gian chuyển đổi thành tiền nhanh. Trong khi đó, nguồn vốn có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh. Cũng theo Trương Quang (2012) cho rằng rủi ro thanh khoản là loại rủi ro đặc trưng và phổ biến.