Chương I: Tân văn Việt Linh và Nguyễn Ngọc Tư trong thành tựu thể loại Chương 2: Đề tài, hình tượng nhân vật trong tản văn Việt Lịnh và Nguyễn "Ngọc Tư tir de tung thể loại “Chương 3: Nghệ thuật biểu hign trong tan vin Vigt Linh va Nguyén Ngoe Tu. TAN VAN VIỆT LINH VÀ NGUYÊN NGỌC TƯ TRONG THÀNH TỰU THÊ LOẠI 1. Giới thuyết khái niệm. 1-11 Tân văn “heo nghĩa rồng, tản văn là văn xuối, đối lập với vận văn (văn vẫn).
Như vậy theo ý nghĩa này, hễ tác phẩm nào viết bằng văn xuôi đều được coi là tản văn. “Lưu Hiệp là người đầu tiên chỉa toàn bộ thư ịch thành văn và bút, bút à ân văn, văn là ân văn. Nhìn chung, ấn văn trong văn học cỗ bao gồm các áng văn xuôi (không iết theo văn biển ngẫu) như kinh, tuyện, sử, tập, như Mạnh Từ, Tả truyện, Sử kí, ắc bài biểu, chiều cáo, hịch, phú, mình, uận.” [40, tr, 384] “Theo nghĩa hẹp, tần văn là một loại hình văn học ngang với thơ, kịch, tiêu thuyết, truyện ngắn. “Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có th trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật.
Lồi thể hiện đời sống của tn vin mang tinh chit chim phá, không nhất thiết đồi hỏi có cốt truyền phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh nhưng có cấu tứ độc đáo, có giong điệu, cốt cách cá nhân” (40, 293}. rong Từ điển thuật ngữ văn hoe, tan văn được dịnh danh là "loại văn xuỗi "gắn gọn, hàm súc, có thể trữ tỉnh, tự sự, nhĩ ludn, migu ả phong cảnh, khắc họa hân vật |9, 293], Các ác giả của cí 1g trinh này còn chỉ ra những phương diện "khác của thể loại như: “phạm vi”, “nội dung”, đề tài, “cá tính tác giả”, tính chất “tự. do”, “cach thể hiện đa dạng” Chúng ôi cho rằng: ấn văn là một th loi phi hư cấu, số tr ích độc lập về mất đặc trung th loại. Dây là loi văn xuổi ngắn gọn, có th trữ tình, tự sự, nghỉ luận, miền tỉ.
Tác phầm thưởng tập trung phản ánh đời sống xã hội ng sự tri nghiệm của bản thần; có ki là những lõi tm th từ gan một những lồi thủ thi chuyên tr với tha nhân, Qua đó bấy tô những suy nghiệm, bộ lỗ tâm tr, nh cảm của người viết về con người, cuộc sống L2. Những khái niệm tương đồng nh chất phí hư ấu và những đặc điểm trên thì có thể coi tản văn là một tiểu loại của kí bên cạnh cá bu loại khác như: kí sự, phóng sự, nhật kí, hồi Xí, bút kí, tủy bút, da kí. Mỗi bu loại này, ö những đặc trưng riêng bên cạnh. những tính chất chung của thê loại kí.
Kí sự thiên về tự sự, thường ghi chép các sự. kê „ hay kể lại một câu chuyện tương đối hoàn chỉnh khi nó vừa xảy ra. Phóng sự là thể loại nằm giữa văn học và báo chí, nó có nhiệm vụ làm rõ một sự kiện, một hoạt đông liên quan đến những vin đỀ có ý nghĩa thời sự để mọi người nhìn nhân, đánh giá. Nhật kí mang tính chất riêng tư, đời thường, tình bảy theo thời gian liên ue hoặc ngất đoạn, có tính chất độc thoại nội tâm, Bút kí thuộc loại trung gian giữa kí sự và tủy bút, nó thiên về ghỉ lại một cảnh vật mà nhà văn mắt thấy tai nghe, thường là tong một chuyển đi tìm hiễu, thực tế, Tủy bút thiên về phía rỡ tình, điểm {ya của tủy bút là cái ôi của tác gi, ngôn từ thường giàu hình ảnh và giầu chất thơ Du ki là thể loi ghỉ chép về vẻ kì thú của cảnh vật thiên nhiên và cuộc đời, những cảm nhân, suy tưởng của con người trong những chuyển du ngoạn, du lịch.
Còn đối với tân văn, là thể loại thể lên đậm nét dấu ấn riêng của người cằm bút. "Đọc những áng tân văn đặc sắc bao giờ ta cũng bắt gặp một cách cảm, cách ng (40, 384) Trên thự tiễn sáng tác và nghiên cứu văn học, gằn vớ tân văn có những khái niềm, những tên gi tương đồng như: nhân dim, tap bi, ap văn, phiếm đảm, “Các khái niệm này có khi được các nhà văn sử dụng để gọi tên tá phẩm của mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường gợi tên th loi của tập Miễn gi đp là nhàn đầm, Nguyễn "Ngọc Tư từng đặt tên tác phẩm của mình là Tạp vốn Nguyễn Ngọc Tí, Việt Linh goi tên thê loại những tập sách của mình là tạp bút, tạp văn. Tên gọi khác nhau, có thê. có một vài diễm khác nhau.
Nhưng theo chúng tôi, những tên gọi này vẫn chưa định vi rigng được với tư cách là một thể loại độc lập mà ắt cả chỉ là những biểu hiện khác nhau của th loại tản văn. Trong bài Ký rrớn hành trình đổi mới, Đỗ Hải Ninh cũng khẳng định: “Tân văn là loại văn ngắn gọn, hàm sức, với khả năng khám phá đồi sống bắt ngờ, thể hiện trực ti tư duy, ỉnh cảm tác giả, bao gỗm cả tạp văn, (uỷ bít, văn tiêu phẩm. Tân văn có th là những áng văn gidu chất rữ tỉnh cũng có thể thiên về ính chính luận nhưng điểm mắu chốt là trong đó bao bàm một thái độ đánh giá của cá nhân người viết [69] 1. Đặc trưng của tán văn và tiến trình phát triển thể loại 1 Đặc trưng cũatần văn Van hoe trong sit phi sinh, phát triển của nó luôn mang lại những sự phong.
phú tong sắng tao. Chính vi thể việc định danh những nét đặc trưng của một thể loại không bao gi cổ định. Ở mỗi gia đoạn phát tiễn của th loại có th có những nết nỗi bật được khái quất từ những sắng tác của các nhà văn ong sự sing tao không ngừng của văn học. Tân văn cũng không phải là ngoại lệ.
Từ những sắng tác 3a xưa đến những mùa nở rộ của tân văn đầu th kỉ XXI, tân văn có những sự phát triển nhất định của nó, Tử thự tiễn sing ác, \heo chúng tôi, tản văn có những đặc trưng cơ bản sau “Tân văn là những tác phẩm văn xuôi ngắn, hàm súc, thể hiện rõ tâm tư, tỉnh cảm, quan niệm của người vết trước những vấn đề được phản ánh trong tác phim. ĐỂ tải phân ánh của tân văn rất rồng, dường như mọi mặt da dạng, phong phú của đời sống đều được khúc xạ trong tản văn. Tân văn phân ảnh những vẫn để muôn mặt của đồi sống từ chuyên trong nhà ngoài ngô; chuyển văn hóa, nghệ thuầt; chuyên chính , xã hội; chuyên giáo dục, y tế chuyện ở nông thôn, chuyện ở hình phổ; chuyện Đông chuyện Tây hin vat tong tn văn không phân bổ thành nhiễu tuyển, không được xây đựng hoàn chính, nhưng sinh động và có máu thị, Có thể là những nhân vật hiện "hữu trong lịch sử hay đang hiện diện trong đời thực. Có những nhân vật người thật việc thất, cũng có những nhân vật hư cầu, chỉ được giới thiệu thoáng qua như một lát cắt, một mảnh vỡ trong đồi sống.
Và bao giờ cũng hiện hữu một nhân vật trữ tình mang bồng đáng của tác giả. Chính hệ thẳng nhân vật phong phú trong tản văn dại điện cho bao lớp người, bao phận người trong xã hội để qua đó, nhà văn bày tô những vui un, trăn ở, nhẫn nhủ của mình đến với đồng loại Nối đến phương thức biểu hiện của tân văn là nói đến một hệ thống đầy phong phú. Kết cấu là một phương diện quan trọng của tần văn. Tuy rằng k °u của tản văn linh hoạt nhưng những tần văn để lại đấu Ấn sâu sắc trong lòng người đọc là những tân văn có kết cấu ạo được sự hấp dẫn, bắt ngờvà mới mẻ XVằ nghệ thuật kẻ chuyện, nhị chung, rong tân văn, người kế chuyên heo ngồi thứ nhất từ cái của tác giá.
Cũng có nhiều sing tác được kể với hình thức đa ngồi, nhiều, êm nhìn nhưng tắt cả đều được lọc qua tư tưởng, cảm xúc của tác giả 1 Sự phát triển và thành tựu của tân văn “Tân văn là một thể loại ra đồi từ lâu trong nền văn học thể giới. Nếu tản văn, theo nghĩa rộng, chỉ những tác phẩm văn xuôi, thì theo các nhà nghiên cứu, ở Trung “Quốc tan văn có từ thời Tiên Tân với những ác phẩm nỗi tiếng như: Tử (nyện, Chiến quốc sách, Luận ngũ, Manh Tủ, Nam Hoa knh,. Trần Đình Sử cho tằng “Tiên thể giới các nhà khoa học, toán học, triết hoe nh Bacon, Pascal, Montaigne đều là ác gi tân văn nổi iếng th giới. Ở Trung Quốc, nỗi tp truyền thống của các dại gia Dường Tổng, tần văn hiện dại có Lỗ Tấn, Chu Tác Nhân, Lâm Ngữ Đường, Chu Tự Thanh.
6 Vigt Nam, thời trung dại đã có những tác giả viết tản văn (theo nghĩa rộng) như: Vũ Phương ĐỀ (Công as dip ky), LE How Tri (Thuong kinh ký sự), Lê 'Quýnh (Bắc hành rùng Ký), Phạm Đình Hỗ (Ư trung tủy bứ,. Thời trung đại, các tie giả không dùng khái niệm thể loại tân văn. Tuy vây, với những tác phẩm ký nối trên, vẫn có đu hiệu của tì văn như bộc lô sự quan sắt, cảm nhận của cá nhân với nhiều tổ bầy cảm xúc. Có th nói, ở thời này th loại ký đã phát tiễn, bước đầu gặt Mái u thành tựu, tong đó có tản văn.
“Trong văn học hiện đại, giai đoạn đầu thế ki XX có nhiều tác giả thành công với tản văn như Tân Da, Dam Phương, Nguyễn Bá Trác,. Tân Dã là nhà văn có nhiều thành tựu về tân văn với những sáng tác iêu biểu gây được sự chú ý cho công, chúng độc giả đương thời (Kỹ niệm hái hoz đào, Bài văn đưa ông Thánh Tân về núi, Giải sầu. Luôn cô Kiầu. Giá người.
Giá của hai đồng xu. Đời như canh bạc Cải chứa tong bụng người, Luật thừa trừ của tạo hoá. Đi với những tân văn ở giải đoạn giao thời này, cũng như những tác phẩm của thể loại khác, yếu tổ cũ của lỗi văn chương trung đại vẫn còn đậm nét, song vẫn manh nha những ý thị „ hình thức diễn đạt mới. Trần Đình Sử có nhận xét về ân văn của Tân Đà: “Tân văn đầu thể kì không ai hơn được Tân Đà.
Tân văn của ông ngắn gọn, c đúc, lập luận chất chẽ, sắc bén, bắt ngờ, gây hứng thú tình cảm và trí tuệ(. Tânvăn của ông nặng về lí í, gần với tần văn Trang Từ, nhưng không hễ chỉ là chủ nghĩa tương đối kiểu luận mà đầy niềm tinvào gi trị thực, giá trị lớn của cuộc đời” [70].