Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ 1. Khái niệm lịch sự Lịch sự (politeness) là một nhân tố quan trọng trong giao tiếp xã hội. Vì thế khái niệm này đã có mặt từ rất lâu trong nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới và sử dụng ngôn ngữ một cách lịch sự cũng không phải xa lạ với các nền văn hóa.
Trong hội thoại, ngoài quan hệ trao đổi thông tin (miêu tả, trần thuật những thông tin được đánh giá theo tiêu chí đúng sai logic) còn có quan hệ liên cá nhân (quan hệ giữa các vai trong giao tiếp). Liên quan trực tiếp đến quan hệ liên cá nhân là vấn đề lịch sự trong giao tiếp. Sau đây là một số cách hiểu về lịch sự: - Theo Thomas, “… phép lịch sự được xem là một (hay một loạt chiến lược) được người nói dùng đề hoàn thành một số mục đích như thiết lập hoặc duy trì những quan hệ hài hòa.256] - Theo Lakoff, “… lịch sự như là một phương thức để giảm thiểu sự xung đột trong diễn ngôn (.); Những chiến lược lịch sự có nhiệm vụ đặc biệt là làm cho cuộc tương tác được thuận lợi.256] - Theo Leech, “Phép lịch sự liên quan tới quan hệ giữa hai người tham gia mà chúng ta có thể gọi là ta và người.256] Cụ thể hơn, phép lịch sự có chức năng: “Gìn giữ sự cân bằng xã hội và quan hệ bạn bè, những quan hệ này khiến chúng ta có thể tin rằng người đối thoại với chúng ta tỏ ra trước hết là cộng tác với chúng ta.256] “Phép lịch sự là hệ thống những phương thức mà người nói đưa vào hoạt động nhằm điều hòa và gia tăng giá trị của đối tác của mình.280] 9 Tóm lại, lịch sự trong giao tiếp là vấn đề ứng xử giữa người nói và người nghe, nhờ đó mà quan hệ liên cá nhân được tạo lập và duy trì, qua cách sử dụng ngôn ngữ khôn khéo nhằm bảo toàn được thể diện của cả hai phía. Hiểu một cách chung nhất phép lịch sự là một biểu hiện qua mối quan hệ liên nhân trong tương tác, làm cho cuộc tương tác xã hội được hài hòa, các cá nhân tham dự cảm thấy dễ chịu, thoải mái và góp phần đưa cuộc tương tác đến thành công.
Lịch sự là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm và tìm hiểu ở nhiều góc độ khác nhau. Các phương châm lịch sự Để hoạt động giao tiếp đạt hiệu quả, những người tham gia vào quá trình giao tiếp cần phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Đó là “giảm tới mức tối thiểu những cách nói không lịch sự và tăng tới mức tối đa những cách nói lịch sự”.260] - Như vậy, để có một phát ngôn lịch sự, người nói cần điều chỉnh mức lợi - thiệt nhằm đảm bảo sự cân bằng trong quan hệ liên cá nhân giữa người nói và người nghe. Dựa trên bốn phương châm hội thoại của P.Leech đã cụ thể hóa nguyên tắc trên thành sáu phương châm lịch sự như sau: < 1> Phương châm khéo léo: - Giảm đến mức tối thiểu những điều thiệt cho người.
- Tăng tối đa những điều lợi cho người. < 2> Phương châm hào hiệp (rộng rãi): - Giảm đến mức tối thiểu những điều lợi cho ta. - Tăng tối đa những điều thiệt cho ta. <3> Phương châm tán thưởng: - Giảm đến mức tối thiểu những lời chê đối với người.
- Tăng tối đa những lời khen cho người. 10 <4> Phương châm khiêm tốn: - Giảm tối thiểu việc khen ta. - Tăng tối đa việc chê ta. <5> Phương châm tán đồng: - Giảm đến mức tối thiểu sự bất đồng giữa ta và người.
- Tăng tối đa sự đồng ý giữa ta và người. <6> Phương châm cảm thông (thiện cảm): - Giảm đến mức tối thiểu ác cảm giữa ta và người. - Tăng tối đa thiện cảm giữa ta và người. Phương châm khéo léo và phương châm hào hiệp được sử dụng khi thực hiện hành động thỉnh cầu hay cam kết còn phương châm tán thưởng thường được sử dụng trong hành vi biểu cảm.
Điểm chung giữa các phương châm khiêm tốn, tán đồng, cảm thông là sự tương phản giảm - tăng về việc khen - chê, bất đồng - tán đồng, không thiện cảm - thiện cảm hướng về người nói và người nghe. Trong thực tế, nhiều tình huống mà người tham gia giao tiếp khó có thể tuân thủ trọn vẹn tất cả các phương châm này. Trong trường hợp ấy, họ sẽ sử dụng các chiến lược lịch sự dương tính và lịch sự âm tính để đảm bảo cho cuộc thoại thành công. Khái niệm thể diện P.Levinson xây dựng lý thuyết của mình trên khái niệm thể diện mượn của Goffman.
Thể diện được P.Levinson định nghĩa là “hình ảnh về ta công cộng mà mỗi thành viên (trong xã hội) muốn mình có được”. Thể diện âm tính Theo tác giả G.Yule thì thể diện âm tính là “nhu cầu được độc lập, tự do trong hành động, không bị người khác áp đặt”. Hành vi đe dọa thể diện 11 Trong giao tiếp người nói luôn có ý thức “giữ thể diện” cho người khác. Thế nhưng phần lớn các hành vi ngôn ngữ đều tiềm ẩn khả năng làm thương tổn đến thể diện người khác.Levinson gọi chúng là những hành vi đe dọa thể diện (Face threatening acts).
Các tác giả này đã phân chia hành vi đe dọa thể diện thành bốn loại sau: - Hành vi đe dọa thể diện âm tính của người thực hiện nó như: tặng, biếu, hứa hẹn. - Hành vi đe dọa thể diện dương tính của người thực hiện như xin lỗi, thú nhận, cám ơn, tự phê bình… - Hành vi đe dọa thể diện âm tính của người tiếp nhận như ra lệnh, chỉ bảo, khuyên răn, dọa nạt, dặn dò… - Hành vi đe dọa thể diện dương tính của người tiếp nhận như phê bình, chê bai, chửi bới, chế giễu… Khi một hành vi đe dọa thể diện được thực hiện thì nó có thể đồng thời đe dọa tất cả các khía cạnh của thể diện đã nêu. Chiến lược lịch sự âm tính 1. Khái niệm lịch sự âm tính Là những phương châm, cách thức sử dụng hành vi ngôn ngữ nhằm bày tỏ sự tôn trọng, nhấn mạnh tầm quan trọng, chú ý đến những điều người khác quan tâm.
Các chiến lược lịch sự âm tính <1> Dùng lối nói gián tiếp đã thành quy ước. <2> Dùng các yếu tố rào đón hay tình thái hóa. <3> Hãy tỏ ra bi quan <4> Giảm thiểu sự áp đặt. <5> Tỏ ra kính trọng.
<7> Phi cá nhân hóa Sp1 và Sp2, tức là dùng những diễn ngôn phiếm chỉ, không có chủ đề rõ ràng. 12 <8> Trình bày hành vi đe dọa thể diện như một quy tắc chung. <10> Bày tỏ lối nói trắng rằng mình mang ơn Sp2 hoặc Sp2 không phải chịu ơn mình. Những biểu hiện ngôn ngữ của phép lịch sự âm tính Mục đích của phần này là tìm ra các biểu hiện ngôn ngữ nhằm thực hiện chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện các FTA đã trình bày ở trên.
Các biểu hiện ngôn ngữ của siêu chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện các hành vi đe dọa thể diện được P.Levinson gọi là các biện pháp dịu hóa. Labov và Fanshel gọi là các biện pháp mềm hóa; Keller gọi là các yếu tố pha loãng; Fillmore gọi là các yếu tố bôi trơn. Các biện pháp dịu hóa là biện pháp làm giảm hiệu lực đe dọa thể diện của người nghe. Chúng bao gồm: các biện pháp thay thế cho các hành vi đe dọa thể diện và các biện pháp đi kèm.
Sau đây là nội dung cụ thể. Các biện pháp thay thế cho các hành vi đe dọa thể diện Các biện pháp thay thế cho các hành vi đe dọa thể diện gồm: a. Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp. Ví dụ, thay vì nói toạc: Cho mượn quyển sách, lại nói: Bạn có thể cho mình mượn quyển sách được không? b.
Các phương tiện tu từ như nói giảm, nói vòng,… c. Các phép phủ định lịch sự như: Không sớm lắm đâu, không lấy gì làm, không phải là thông minh cho lắm,… 1. Các biện pháp đi kèm Các biện pháp đi kèm gồm: a. Các công thức đi kèm thường dùng trong câu cầu khiến như: Làm ơn, phiền cậu (ông, bà, anh, chị,…) giúp cho, hộ, hộ cho, cảm phiền,… b.
Dùng biện pháp giảm xốc một hành vi đe dọa thể diện gây ra cho người tiếp nhận là dùng cách báo trước hành vi đó bằng các kiểu tiền dẫn nhập. Ví dụ: Tiền dẫn nhập một thỉnh cầu: Cậu (ông, bà,…) có thể giúp tôi (mình, cháu,…) một việc không? Tiền dẫn nhập một hành động hỏi bằng một 13 câu hỏi như: Tôi có thể hỏi bạn được không? Tiền dẫn nhập một lời đánh giá, nhận xét, phê bình cũng bằng câu hỏi kiểu như: Mình có thể nhận xét một chút không? Hoặc bằng hành động xin phép Cho mình góp ý nhé! c. Có thể giảm nhẹ hiệu lực đe dọa thể diện bằng lời xin lỗi, bằng cách nêu lí do để thanh minh,… d. Giảm thiểu hiệu quả xấu bằng cách nói: Một ít, một chút, một lát, một tí tì ti thôi, chút xíu thôi, chẳng là bao đâu,… đ.
Tình thái hóa như: Tôi nghĩ rằng, tôi thấy rằng, có lẽ là, theo tôi nghĩ… Những công thức tình thái hóa này thường dùng trong các hành động xác tín, khẳng định, đánh giá. Biện pháp “tháo ngòi nổ”. Khi dự đoán rằng hành động sắp thực hiện có thể gây hiệu quả xấu cho người nghe thì người nói có thể tháo ngòi nổ cho người nghe bằng cách nói trước cái hiệu quả xấu đó ra như: Tôi rất băn khoăn phải phiền anh, nhưng… Mình biết cậu không muốn rời mắt khỏi màn hình một phút, nhưng… f. Những yếu tố vuốt ve làm cho người nghe nuốt trôi những viên thuốc đắng.
Đây là cách nói nêu ra ưu điểm của người nhận trước khi nêu ra hành vi đe dọa thể diện. Ví dụ: Cô bạn thủ khoa văn ơi, giảng hộ mình đề văn này với. Vì các hành động nói hoặc chính thức có, hoặc đều tiềm ẩn khả năng đe dọa thể diện cho nên các biện pháp ngôn ngữ để biểu hiện chúng có số lượng không thể kể xiết trong tất cả các ngôn ngữ. Những biểu hiện ngôn ngữ của phép lịch sự âm tính trên đây sẽ là cơ sở để chúng tôi khảo sát biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao.
Vai giao tiếp 1. Một số quan điểm về vai giao tiếp Con người trong giao tiếp ngôn ngữ không chỉ là người nói hoặc người nghe mà là các thành viên của hệ thống giao tiếp xã hội cụ thể.