mở đầu và kết thúc (văn bản hành chính)…. Tính liên kết trong văn bản đó là những mối liên hệ chặt chẽ giữa các câu, đoạn, phần trong văn bản….tạo nên tính chỉnh thể của văn bản. Khái niệm văn bản hành chính Nghiên cứu về VBHC, hầu hết các tác giả đều khẳng định đây là loại văn bản được sử dụng trong lĩnh vực quản lí, tổ chức và điều hành xã hội, nhưng nhìn từ phương diện tác giả (chủ thể ban hành) và tên gọi của loại văn bản này thì còn có nhiều quan điểm khác nhau: a. Quan điểm thứ nhất cho rằng VBHC là văn bản được ban hành bởi cơ quan của Đảng, Nhà nước và các tổ chức, cơ quan khác.
Tác giả Vương Đình Quyền - đại diện tiêu biểu cho quan niệm này cho rằng: “VBHC là công 7 cụ được dùng để truyền đạt chủ trương, chính sách luật pháp và các thông tin cần thiết của Đản, nhà nước và các cơ quan, tổ chức khác. Tương tự như vậy, các tác giả của Phong cách học Tiếng Việt tuy không trực tiếp nêu tên chủ thể ban hành VBHC là các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các tổ chức, cơ quan khác nhưng cũng nêu rõ: VBHC là văn bản “tạo ra bởi “khuôn” phong cách hành chính công vụ trong đó thể hiện vai của người tham gia vào giao tiếp trong lĩnh vực hành chính – công vụ tức những người tham gia vào guồng máy tổ chức, quản lí, điều hành tất cả các mặt của đời sống xã hội”. “Những người tham gia vào guồng máy tổ chức,quản lí, điều hành tất cả các mặt của đời sống xã hội” ở nước ta cũng chính là các cơ quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và các tổ chức, cơ quan khác. Các tác giả của Phong cách học tiếng Việt xác định VBHC gồm các thể loại như: mệnh lệnh, báo cáo, điều lệnh, hướng dẫn.trong các văn bản quân sự; công điện, công hàm, hiệp định, hiệp nghị, hiệp ước, điều ước, chứng thư nhà nước, nghị định thư.trong kiểu văn bản ngoại giao; hiến pháp, sắc lệnh, mệnh lệnh, điều lệ, nghị định, thông tư, chỉ thị, nghị quyết, quyết định, đơn từ, báo cáo, biên bản, giấy khen, văn bằng, giấy chứng nhận, hợp đồng, hóa đơn, giấy biên nhận.trong kiểu văn bản văn thư [44, tr.
Quan điểm thứ hai cho rằng, chủ thể ban hành VBHC ngoài các cơ quan nhà nước, các đoàn thể xã hội còn có thể là nhân dân. Trong cuốn Tiếng Việt thực hành, các tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng đã định nghĩa: VBHC là “loại văn bản dùng trong các hoạt động tổ chức, quản lí, điều hành xã hội và thực hiện sự giao tiếp giữa các cơ quan nhà nước với nhân dân và ngược lại; giữa các cơ quan nhà nước với nhau; giữa các cơ quan nhà nước với nhau; giữa các tổ chức đoàn thể với nhau và với quần chúng” và VBHC bao gồm “các văn bản luật, các văn bản hội nghị (biên bản, nghị quyết, báo cáo hoặc đề án công tác.), các văn bản về thủ tục hành chính (đơn từ, công văn, chỉ thị, quyết định)” [57, tr. Quan điểm thứ ba cho rằng, VBHC là văn bản được các cơ quan hành pháp (các cơ quan hành chính nhà nước) ban hành. Tiêu biểu cho quan điểm này là các tác giả cuốn Hành chính học đại cương đã cho rằng: “ VBHC là hình thức thể hiện của quyết định hành chính nhằm cụ thể hóa hiến pháp, luật, pháp lệnh và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc áp dụng pháp luật cho các chủ thể xác định trong các trường hợp nhất định.
Nói cách khác, VBHC là các quyết định hành chính được ban hành thành văn (được văn bản hóa) do các cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyến hành pháp ban hành theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, mang tính quyền lực nhà nước.” Các tác giả cũng xác định VBHC gồm: 1) các văn bản pháp quy như nghị quyết, và nghị định của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; nghị quyết, quyết định, chỉ thị của các cơ quan chính quyền ở địa phương; 2) các “VBHC thông thường, mang tính thông tin điều hành nhằm thực thi các văn bản pháp quy hoặc dùng để giải quyết các tác nghiệp cụ thể, phản ánh tình hình, giao dịch, trao đổi về công việc trong quá trình thực thi các nhiệm vụ theo chức năng quản lí hành chính nhà nước” [63, tr. Cũng theo quan niệm này thì VBHC là một loại nhỏ hơn của hệ thống văn bản quản lí nhà nước. Từ những quan niệm trên, chúng tôi thống nhất với quan điểm VBHC gắn với lĩnh vực hành chính theo nghĩa rộng. Theo đó, khái niệm văn bản hành chính được tác giả Vũ Thị Sao Chi trong cuốn Tiếng Việt hành chính xác định: “Văn bản hành chính là loại văn bản được tạo lập và sử dụng trong hoạt động quản lý, tổ chức, điều hành, giao dịch của các cơ quan, đoàn thể, hiệp hội, tổ chức, công dân dựa trên những nguyên tắc pháp lí” [17, tr.
Các loại văn bản hành chính VBHC là một hệ thống bao gồm nhiều hệ thống nhỏ hơn hợp lại. Văn bản của Hội liên hiệp phụ nữ nói chung, Hội LHPN Hải Phòng nói riêng 9 không thuộc hệ thống văn bản của các cơ quan quản lí nhà nước mà thuộc hệ thống văn bản của các tổ chức chính trị - xã hội. Vì thế, theo quy định, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức chính trị - xã hội, để thực hiện nhiệm vụ quản lí, điều hành các hoạt động VBHC của Hội LHPN có thể phân thành các hệ thống nhỏ: văn bản pháp quy (văn bản mang tính quy định pháp lí), văn bản cá biệt và văn bản hành chính thông thường. Văn bản pháp quy phạm pháp luật của Hội LHPN có các thể loại như: nghị quyết, quyết định, quy chế, điều lệ.
Nghị quyết là một hình thức văn bản quy phạm pháp luật, dùng để ghi lại một cách chính xác những kết luận và quyết định của hội nghị tập thể các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, chính trị- xã hội… được thông qua theo trình tự thủ tục nhất định do pháp luật quy định [50, tr. Quyết định là một hình thức văn bản quy phạm pháp luật, được cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành để quyết định các chủ trương, biện pháp, chế độ thuộc thẩm quyền quản lý của mình [50, tr. * Văn bản quy định cá biệt Văn bản quy định cá biệt là văn bản do chủ thể có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục quy định, nhằm áp dụng quy phạm pháp luật đưa ra các quy tắc xử sự riêng đối với đối tượng cụ thể, được chỉ định rõ để giải quyết những công việc nhất định trong công tác quản lý. Các văn bản quy định cá biệt thường gặp như: quyết định nhân sự (quyết định tuyển dụng, phân công công tác, quyết định thuyên chuyển, điều động công tác, quyết định nâng lương, quyết định bổ nhiệm cán bộ.); quyết định khen thưởng, kỉ luật; quyết định thành lập ban hoặc hội đồng;.
* Văn bản hành chính thông thường Văn bản hành chính thông thường là những văn bản có nội dung chứa đựng các thông tin mang tính chất điều hành tác nghiệp trong các cơ quan, tổ chức như: triển khai, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, theo dõi, phản ánh tình 10 hình, đánh giá kết quả các hoạt động; hoặc trao đổi, giao dịch, liên kết hoạt động giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân. Văn bản hành chính thông thường bao gồm các loại văn bản sau: thông báo, báo cáo, kế hoạch, tờ trình, công văn, hướng dẫn, biên bản, đề án, dự án, phương án, chương trình, công điện, các loại giấy (giấy mời, giấy đi đường, giấy uỷ nhiệm, giấy nghỉ phép.), các loại phiếu (phiếu gửi, phiếu báo, phiếu trình. Thông báo là loại văn bản hành chính thông thường. Nó được dùng chủ yếu để truyền đạt nội dung của một quyết định, một tin tức, một sự việc cho các cơ quan, đơn vị, cá nhân liên quan biết.
hông tin về hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội; thông tin nhanh về những quyết định của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội cho các đối tượng của mình biết để thi hành và những thông tin khác mà người có liên quan cần biết [50, tr. Báo cáo là văn bản trình bày những kết quả đã đạt được trong hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nhằm giúp cho việc đánh giá tình hình thực tế quản lý, lãnh đạo, là căn cứ để cấp trên ra quyết định quản lý phù hợp.Căn cứ vào nội dung, tính chất, mục đích, báo cáo có nhiều loại khác nhau [50, tr. Tờ trình là văn bản đề xuất với cấp trên một vấn đề, xin cấp trên phê duyệt. Đó có thể là một chủ trương, một phương án công tác, một chính sách, một chế độ, một tiêu chuẩn, một định mức hoặc một đề nghị bổ sung, bãi bỏ một văn bản, quy định không còn phù hợp, hoặc những vấn đề thông thường trong quản lý ở các cơ quan [50, tr.
Công văn là loại văn bản hành chính không có tên loại, được dùng phổ biến và thường xuyên trong các cơ quan, tổ chức để trao đổi thông tin, giao dịch giữa các cơ quan, tổ chức với nhau và với công dân nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình [50, tr. Chức năng của văn bản hành chính VBHC vừa là sản phẩm, vừa là phương tiện của quá trình quản lí. Vì thế, khi nghiên cứu VBHC chúng ta cần nắm vững chức năng của chúng để định hướng đúng cho quá trình soạn thảo văn bản và sử dụng có hiệu quả, đảm bảo tính pháp lí của văn bản. Qua nghiên cứu lý luận và thực tế cho thấy cùng với mục đích và tính chất nội dung ban hành, có thể nêu lên một số chức năng điển hình của văn bản hành chính như sau: 1.
Chức năng thông tin - Thông tin là chức năng cơ bản nhất, tổng quát nhất của văn bản hành chính, được sử dụng ghi và truyền đạt các thông tin của các cơ quan nhà nước đến tổ chức và nhân dân. Trong thời đại bùng nổ công nghệ hiện nay, mặc dù thông tin phục vụ cho hoạt động quản lí được phản ánh, lưu giữ bằng nhiều phương tiện, nhiều kênh khác nhau.nhưng văn bản vẫn là phương tiện chủ yếu vì văn bản được xem là hình thức thuận lợi và đáng tin cậy nhất.