MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Họ Megachilidae là một trong những họ có sự đa dạng cao về thành phần loài trong tổng họ Ong mật Apoidea. Theo thống kê của Ascher và Pickering (2016) [34], trên thế giới hiện có hơn 4000 loài thuộc họ Megachilidae đã được mô tả. Các loài ong thuộc họ này được tìm thấy ở khắp nơi trên thế giới và phổ biến nhất là ở Bắc Mỹ (Serrano, 2014) [29].
Các loài ong mật thuộc họ Megachilidae nói riêng là một trong những trợ thủ đắc lực cho nền nông nghiệp. Chúng là nhân tố thụ phấn quan trọng cho nhiều cây trồng ăn quả, một số loại cây trồng khác như hành tây, cà rốt, các loài hoa dại,.… Thậm chí, một số loài ong thuộc họ này (như Osmia spp., Megachile rotundata,…) còn được sử dụng như những loài thụ phấn thương mại (giống các loài ong mật thuộc giống Apis trong họ Ong mật Apidae) cho một số cây trồng như cỏ linh lăng, cây việt quất (Bohart, 1972; Serrano, 2014) [6, 29]. Tuy nhiên, gần đây mới chỉ có một số tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu về các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ở Việt Nam (Lê Xuân Huệ, 2008; Khuat et al., 2012; Ascher and Pickering, 2016) [1, 16, 34], và cho đến nay cũng mới chỉ có ba công trình công bố về họ ong này. Mặt khác, trong các công trình nghiên cứu đó chỉ đưa ra tên khoa học của các loài chứ không đề cập đến tình hình phân bố của loài đó trên thế giới và Việt Nam, cũng như không có hình ảnh minh họa rõ ràng cho các loài, kể cả những loài được xác định là loài ghi nhận mới cho Việt Nam.
Bắc Bộ và Trung Bộ được cấu thành từ các tiểu vùng lãnh thổ khác nhau, do đó địa hình mang những đặc trưng riêng của mỗi miền. Bắc Bộ mang khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, lại có mùa đông lạnh. Mặc dù, một phần phía bắc của Trung Bộ cũng có mùa đông lạnh kèm theo mưa nhưng nhìn chung nền nhiệt trung bình của Trung Bộ cao hơn hẳn so với Bắc Bộ. Với sự khác nhau c 2 về địa hình cũng như khí hậu sẽ tạo nên sự khác biệt về đa dạng côn trùng nói chung và thành phần các loài ong mật nói riêng ở mỗi miền, đồng thời góp một phần không nhỏ tạo nên sự đa dạng các loài ong mật ở Việt Nam.
Nhằm làm rõ sự đa dạng về thành phần cũng như sự phân bố của các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ở một số khu vực thuộc Bắc Bộ, Trung Bộ và sự sai khác về thành phần các loài ong mật thuộc họ này ở các khu vực nghiên cứu, đồng thời tạo tiền đề cho công tác bảo tồn các loài ong mật nói chung, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu về thành phần và sự phân bố của các loài ong mật thuộc họ Megachilidae (Hymenoptera: Apoidea) ở một số khu vực thuộc Bắc Bộ và Trung Bộ”. Mục đích của đề tài Nghiên cứu thành phần và sự phân bố của các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ở một số khu vực điển hình, đại diện cho miền Bắc và miền Trung của nước ta, đồng thời so sánh sự đa dạng của chúng giữa các khu vực nghiên cứu, tạo cơ sở cho nghiên cứu sau này về sinh học sinh thái, sinh học bảo tồn các loài ong mật thuộc họ Megachilidae. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn - Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu nhằm đưa ra những dẫn liệu mới về sự đa dạng thành phần và phân bố của các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ở một số khu vực điển hình, đại diện cho miền Bắc và miền Trung nước ta. - Ý nghĩa thực tiễn: Tạo tiền đề cho công tác bảo tồn các loài ong mật thuộc họ Megachilidae nói riêng và tổng họ Ong mật Apoidea nói chung ở Việt Nam.
Các điểm mới của luận văn Đây là nghiên cứu đầu tiên về thành phần và sự phân bố của các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ở một số khu vực thuộc Bắc Bộ và Trung Bộ. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của các khu vực nghiên cứu 1.Vị trí địa lí Theo địa lý tự nhiên, Việt Nam được chia thành 3 miền: Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Nhưng trong khuôn khổ luận văn này chỉ tiến hành nghiên cứu ở 2 miền Bắc Bộ và Trung Bộ của Việt Nam do thời gian nghiên cứu có hạn và các mẫu vật ở một số khu vực đại diện cho hai miền này đã được thu thập trong thời gian gần đây.
Bắc Bộ nằm ở vùng cực Bắc của lãnh thổ Việt Nam, phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào và phía đông giáp biển Đông. Được bắt đầu từ vĩ độ 23o23’ Bắc đến 8o27’ Bắc với chiều dài là 1 650 km. Chiều ngang Đông - Tây là 500 km, rộng nhất so với Trung Bộ và Nam Bộ. Bắc Bộ được chia thành 3 tiểu vùng lãnh thổ: Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ và đồng bằng sông Hồng.
- Vùng Tây Bắc Bộ bao gồm 6 tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên, Hoà Bình, Lai Châu, Sơn La. - Vùng Đông Bắc Bộ bao gồm 9 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh. - Vùng Đồng bằng sông Hồng bao gồm 10 tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Vĩnh Phúc. Trung Bộ có phía Bắc giáp khu vực đồng bằng Sông Hồng và Trung du miền núi vùng Bắc Bộ, phía Nam giáp các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu vùng Nam Bộ, phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây giáp 2 nước Lào và Campuchia.
Dải đất miền Trung được bao bọc bởi những dãy núi chạy dọc bờ phía Tây và sườn bờ biển phía Đông, vùng có chiều ngang c 4 theo hướng Đông - Tây hẹp nhất Việt Nam (khoảng 50 km) và nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Trung Bộ được tạo thành bởi 3 tiểu vùng lãnh thổ là: Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. - Bắc Trung Bộ gồm có 6 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế. - Nam Trung Bộ gồm 8 tỉnh thành theo thứ tự Bắc-Nam: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận.
- Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Điều kiện tự nhiên Địa hình Bắc Bộ đa dạng và phức tạp, bao gồm đồi núi, đồng bằng, bờ biển và thềm lục địa, có lịch sử phát triển địa hình và địa chất lâu dài, phong hóa mạnh mẽ, có bề mặt thấp dần, xuôi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam được thể hiện thông qua hướng chảy của các dòng sông lớn. Khu vực đồng bằng rộng lớn nằm ở lưu vực sông Hồng, có diện tích 14 800 km2 và bằng 4,5% diện tích cả nước. Đây là đồng bằng châu thổ lớn thứ hai của Việt Nam (sau đồng bằng sông Cửu Long diện tích 40 000 km2) do sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp.
Phần lớn bề mặt đồng bằng có địa hình khá bằng phẳng, có độ cao từ 0,4 - 12m so với mực nước biển. Khu vực Tây Bắc có diện tích khoảng 102 900 km2 và chiếm 30,7% diện tích cả nước. Địa hình ở đây bao gồm các dãy núi cao và rất hiểm trở, kéo dài từ biên giới phía bắc (nơi tiếp giáp với Trung Quốc) tới phía tây tỉnh Thanh Hoá. Trong khu vực này từ lâu đã xuất hiện nhiều đồng cỏ, nhưng thường không lớn và chủ yếu nằm rải rác trên các cao nguyên ở độ cao 600 – 700m.
c 5 Khu vực Đông Bắc với địa hình phần lớn là núi và đồi nằm ở ven bờ biển Đông, được bao bọc bởi các đảo và quần đảo lớn nhỏ. Bắc Bộ quanh năm có nhiệt độ tương đối cao và ẩm, nền khí hậu chịu ảnh hưởng từ lục địa Trung Hoa chuyển qua và mang tính chất khí hậu lục địa. Toàn vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm quanh năm với 2 mùa rõ rệt là mùa hè và mùa đông. Đồng thời, hàng năm, Bắc Bộ chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam.
Nhiệt độ trung bình năm tăng dần từ phía bắc xuống phía nam và có khí hậu giao hoà, là đặc trưng của khu vực đồng bằng Bắc Bộ và ven biển. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25°C, lượng mưa trung bình từ 1 700 đến 2 400 mm. Vào mùa đông nhiệt độ xuống thấp và thấp nhất trong các tháng 12 và tháng 1. Thời gian này ở khu vực miền núi phía bắc (như Sa Pa, Tam Đảo, Hoàng Liên Sơn) có thời điểm nhiệt độ còn xuống dưới 0°C, xuất hiện băng giá và có thể có tuyết rơi.
Khí hậu vùng Bắc Bộ cũng thường phải hứng chịu nhiều tác động xấu của thời tiết, trung bình hàng năm có từ 6 đến 10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới gây ra lũ lụt, đe dọa trực tiếp đến cây trồng nông nghiệp ảnh hưởng đến cuộc sống của các địa phương trong vùng [35]. Địa hình Trung Bộ có độ cao thấp dần từ khu vực miền núi xuống đồi gò trung du, xuôi xuống các đồng bằng phía trong dải cồn cát ven biển rồi ra đến các đảo ven bờ. Bắc Trung Bộ bao gồm các dãy núi phía Tây và nơi giáp Lào có độ cao trung bình và thấp. Riêng miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hoá có độ cao từ 1 000 – 1 500 m.
Khu vực miền núi Nghệ An - Hà Tĩnh là đầu nguồn của dãy Trường Sơn có địa hình rất hiểm trở, phần lớn các núi cao nằm rải rác ở đây. Các miền đồng bằng có tổng diện tích khoảng 6 200 km2, trong đó đồng bằng Thanh Hoá do nguồn phù sa từ sông Mã và sông Chu bồi đắp, chiếm gần một nửa diện tích, đồng thời là đồng bằng rộng nhất của Trung Bộ. Vào mùa c 6 đông, do gió mùa thổi theo hướng Đông Bắc mang theo hơi nước từ biển vào nên toàn khu vực chịu ảnh hưởng của thời tiết lạnh kèm theo mưa. Đây là điểm khác biệt với thời tiết khô hanh vào mùa đông ở vùng Bắc Bộ.
Đến mùa hè không còn hơi nước từ biển vào nhưng có thêm gió mùa Tây Nam (còn gọi là gió Lào) thổi ngược lên gây nên thời tiết khô nóng, vào thời điểm này nhiệt độ ngày có thể lên tới trên 40°C, trong khi đó độ ẩm không khí lại rất thấp. Tây Nguyên có địa hình đa dạng và phức tạp, chủ yếu là cao nguyên với độ cao từ 250 – 2 500 m. Tây Nguyên không phải là một cao nguyên mà là một loạt cao nguyên liền kề.