CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU MoS2 1. Cấu trúc tinh thể của MoS2 Vật liệu MoS2 có cấu trúc phân lớp của các lớp nguyên tử molybden (Mo) và lưu huỳnh (S), trong đó một mặt phẳng gồm các nguyên tử Mo được kẹp bởi các mặt phẳng của các nguyên tử S.
Ba tầng này tạo thành một lớp đơn lớp S-Mo-S của MoS2. Các nguyên tử Mo và S trong từng đơn lớp liên kết với nhau bởi lực liên kết cộng hóa trị bền vững. Mẫu khối MoS2 bao gồm các đơn lớp xếp chồng lên nhau, được giữ với nhau bằng tương tác Van-der Waals yếu. Tinh thể MoS2 được tìm thấy trong tự nhiên là một trong hai pha: 2H- MoS2 và 3R-MoS2, trong đó chữ "H" và chữ "R" tương ứng cho biết đối xứng lục giác và hình thoi.
Trong cả hai cấu trúc này, mỗi nguyên tử Mo tồn tại ở tâm của một quả cầu phối trí lăng trụ tam giác và được liên kết cộng hóa trị với sáu ion S. Mỗi nguyên tử S có sự phối trí hình chóp và được liên kết với ba nguyên tử Mo (Hình 1. Cả hai pha 2H và 3R đều là chất bán dẫn [2]. Pha tinh thể thứ ba, có khả năng siêu bền được gọi là 1T-MoS 2 được phát hiện bằng cách xen 2H-MoS2 với các kim loại kiềm (Hình 1.
Pha này có đối xứng tứ giác và có tính kim loại. Pha 1T có thể được ổn định thông qua pha tạp với các chất cho điện tử như rheni, hoặc chuyển đổi trở lại pha 2H bằng bức xạ vi sóng [2]. Các cấu trúc tinh thể của MoS2 [2] MoS2 có thể tồn tại ở các dạng cấu trúckhác nhau như cấu trúc dạng khối (3D), dạng hai chiều (2D), dạng một chiều (1D) hoặc dạng chấm lượng tử (nano dots). Các đặc tính và ứng dụng của nó cũng thay đổi từ chiều này sang chiều khác, chúng có thể là bán dẫn, kim loại hoặc siêu dẫn.
Nó tồn tại trong một số lớp và hình dạng. Cấu trúc 3D của nó có thể là tam giác (T), lục giác (H) và hình thoi (R), trong đó 2H-MoS2 có nghĩa là hình dạng lục giác 2 lớp MoS2. Ba cấu trúc chính là 1T, 2H và 3R, trong đó pha 1T tọa độ trong cấu trúc bát diện, 2H và 3R trong cấu trúc lăng trụ tam giác như thể hiện trong Hình 1. Cấu trúc 1T được biết đến là kim loại trong khi hai cấu trúc còn lại là bán dẫn.
Lớp đơn lớp của MoS2 lục giác cũng là chất bán dẫn. Cả 2H và 3R đều được sử dụng làm chất bôi trơn khô. Do tính chất quang học phi tuyến của pha 3R, nó được sử dụng trong cảm biến khối lượng quang học phi tuyến trong các phép đo lượng tử và y sinh học. Ví dụ, đối với cảm biến khí, các vật liệu pha khác nhau của MoS2 thích hợp trong việc thu được độ nhạy cao và giải hấp phụ nhanh chóng.
Các trình tự phối trí và xếp chồng khác nhau của ba cấu trúc MoS2 1T, 2H và 3R [3]. 1H-MoS2 là cấu hình ổn định nhất và nó được tạo thành từ một lớp S và một lớp Mo, nơi S-Mo-S được gắn vào thông qua liên kết cộng hóa trị mạnh, với độ dày xấp xỉ 0,65 nm, các đơn lớp S-Mo-S liên kết với nhau thông qua lực Wan-der-Vaal yếu. Độ dẫn của nano MoS2 phụ thuộc vào nhiệt độ và độ dày của các tấm vật liệu, trong đó độ dẫn điện tăng khi nhiệt độ tăng và giảm khi tăng độ dày cho đến khi đạt đến cấu trúc dạng khối [3]. MoS2 tồn tại ở cấu trúc 2D như tấm mỏng nano (nanoplates) và nanoribbons hoặc cấu trúc 1D dưới dạng dây nano (nanowires) và ống nano (nanotubes), hoặc cấu trúc 0D như chấm lượng tử (nanodots) và tiểu cầu nano (nanoplatelets).
Độ dày của các tấm mỏng nano 2D được tìm thấy là từ 1 đến 3 lớp MoS2, trong khi độ dài của dây nano 1D có thể có chiều dài từ 14 đến 30 nm và đường kính xấp xỉ 0,6 nm. Các tiểu cầu nano có kích thước 12-30 nm với chiều rộng một đơn vị tế bào. Các chấm lượng tử có kích thước từ 2 đến 10 nm. Chúng có độ rộng vùng cấm cao hơn tấm mỏng nano và liên kết e 9 giữa các nguyên tử Mo mạnh hơn so với các đơn lớp.
Sự thay đổi độ rộng vùng cấm của MoS2 từ chiều này sang chiều khác, làm thay đổi đặc tính phát quang và do đó có các tính chất quang học khác nhau tùy theo chiều của nó. Ngoài ra, các lớp đơn lớp hoặc các dạng kích thước khác cũng dễ dàng được thực hiện trong các cấu trúc nano quang học để nâng cao cường độ phát quang và tốc độ phát xạ thông qua các tương tác vật chất ánh sáng. Đây là động lực mạnh mẽ để đưa vật liệu MoS2 vào ứng dụng quang học [3]. Một số tính chất của vật liệu MoS2 1.
Tính chất quang Bước sóng và năng lượng vùng cấm tỉ lệ nghịch với nhau, các photon có bước sóng lớn hơn và năng lượng nhỏ hơn không thể bị hấp thụ [4]. Hệ số hấp thụ là độ sâu xuyên qua của ánh sáng ở một bước sóng cụ thể cùng với vật liệu, trước khi ánh sáng bị vật liệu hấp thụ hoàn toàn. Hệ số hấp thụ của MoS2 ở đa lớp và đơn lớp tương đối lớn hơn ở gần phổ khả kiến (400- 500 nm) vì chúng không bao quanh toàn bộ phạm vi nhìn thấy (400-700 nm). Có một sự phân rã mạnh ở bước sóng 500 nm [4].
Hệ số tắt là cách ánh sáng dễ dàng truyền qua vật liệu ở một bước sóng duy nhất. Đối với một lớp MoS2, hệ số tắt được thể hiện cực đại ở bước sóng 450 nm. Điều này cho thấy rằng ở bước sóng duy nhất này, ánh sáng được giữ lại bởi một lớp MoS2. Trên 500 nm, hệ số tắt rất nhỏ, điều này cho thấy lớp đơn của MoS2 là trong suốt sau 500 nm.
Đối với MoS2 đa lớp, đỉnh cũng xuất hiện ở ~400 nm nhưng cường độ của đỉnh trong đa lớp lớn hơn đơn lớp, có nghĩa là nhiều lớp MoS2 giữ lại ánh sáng tốt hơn một lớp MoS2 ở bước sóng này. Chiết suất là tỷ số giữa vận tốc của ánh sáng trong chân không với vận tốc của ánh sáng trong vật liệu đó. Đối với đơn lớp MoS2, giá trị chiết suất e 10 dưới 250 nm nằm giữa giá trị 1 và 2, cho thấy nó trong suốt đối với ánh sáng nhìn thấy. Ngược lại đối với đa lớp MoS2, chiết suất luôn lớn hơn 2, chiết suất cực đại quan sát được gần 500 nm đối với cả MoS2 đa lớp và đơn lớp [4].
Phổ Raman là một kỹ thuật quan trọng đặc trưng để chứng minh các thông số cấu trúc của vật liệu trong khi chuyển đổi từ cấu hình 3D sang cấu hình 2D có cấu trúc phân lớp. Hai đỉnh Raman điển hình là E12g và A1g được khảo sát để phản ánh cấu trúc tinh thể của MoS2. Các đỉnh phổ E12g và A1g lần lượt là chỉ số của chế độ dao động trong và ngoài mặt phẳng của nguyên tử S (Hình 1. Cấu trúc của MoS2 chuyển từ đa lớp đến đơn lớp theo ba quy tắc.
Thứ nhất, đỉnh phổ E12g dịch chuyển về bước sóng ngắn (blue shift) trong khi đỉnh phổ A1g dịch chuyển theo chiều ngược lại về bước sóng dài (red shift). Các đỉnh phổ E12g và A1g định vị ở ~384 cm-1 và ~405 cm-1 đối với MoS2 một lớp. Thứ hai, chênh lệch tần số đỉnh giữa E12g và A1g cho thấy xu hướng giảm rõ ràng như một hàm của số lớp (Hình 1. Khoảng cách tần số giữa hai đỉnh phổ E12g và A1g của MoS2 ở mẫu khối và đơn lớp lần lượt là khoảng 25 cm-1 và 19 cm-1.
Thứ ba, cường độ hai đỉnh phổ gần như tăng tuyến tính lên đến bốn lớp với độ dày lớp tăng lên, trong khi giảm đối với MoS2 dày hơn (Hình 1. Cấu trúc tinh thể và tính chất quang học của MoS2: (a) Hình minh họa sơ đồ của hai chế độ phonon hoạt động điển hình của Raman (E12g, A1g). (b) Phổ Raman của màng mỏng và màng MoS2 khối lượng lớn. (c) Tần số của chế độ Raman E12g và A1g (trục tung bên trái) và sự khác biệt của chúng (trục tung bên phải) với độ dày lớp.
(d) Sự phụ thuộc độ dày của cường độ tích hợp (trục tung bên trái) và tỷ lệ của cường độ tích hợp (trục tung bên phải) cho hai chế độ Raman. Phổ huỳnh quang (PL: photoluminescence) của vật liệu MoS2 có liên quan chặt chẽ với số lớp trong nó. Có sự khác biệt rõ rệt trong phổ PL giữa các mẫu MoS2 ở dạng đơn lớp (monolayer: 1L), hai lớp (two layers: 2L), bốn e 12 lớp (four layers: 4L) và sáu lớp (hexalayer: 6L) (Hình 1. Hai đỉnh phổ PL có cường độ mạnh ở 670 nm và 627 nm, được xác định là các exciton A1 và B1.
Hai đỉnh phổ này có thể quan sát thấy trong phổ PL của mẫu ở dạng 1L MoS2, trong khi cả hai đỉnh phổ này đều biến mất trong phổ PL của mẫu MoS2 ở dạng nhiều lớp. Hai exciton này có liên quan đến sự phân chia năng lượng từ sự ghép nối spin quỹ đạo vùng hóa trị. Sự cộng hưởng nổi bật trong mẫu 1L chỉ ra sự chuyển đổi exciton trực tiếp tại điểm Brillouin vùng K, điều này cũng phù hợp với dự đoán lý thuyết về sự chuyển đổi vùng cấm xiên (1,2 eV) sang vùng cấm thẳng (1,8 eV) khi thay đổi từ MoS2 dạng khối thành đơn lớp. Do đó, MoS2 với số lớp của nó thay đổi từ đa lớp sang đơn lớp, sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất trong cấu trúc năng lượng của nó, điều này giải thích thêm về hiệu ứng PL nổi bật trong mẫu 1L MoS2 [5].
Tính chất cơ MoS2 đơn lớp có độ bền cao, kém hơn graphene và độ đàn hồi tốt tương tự như graphene oxyt, với mô đun Young là 0,33 ± 0,07 TPa. Đơn lớp MoS2 có tính linh hoạt hơn các cấu trúc khối lượng lớn, trong đó mô đun Young của nó là 0,24 TPa. Không giống như các chất bán dẫn khác, tính linh hoạt của MoS2 ngăn chặn sự biến dạng và dịch chuyển vùng cấm có thể xảy ra đối với cấu trúc tinh thể của nó khi bị biến dạng. Tuy nhiên, biến dạng cơ học được sử dụng để thay đổi các đặc tính điện tử MoS2 và chuyển chúng từ dạng chất bán dẫn sang kim loại.
Nó biến đổi độ rộng vùng cấm thẳng của các lớp MoS2 thành một lớp có vùng cấm xiên và các giá trị biến dạng cao có thể gây ra biến dạng cấu trúc và biến đổi MoS2 thành kim loại [3].