Mở đầu truyện cũng như trong khi kể thường xen những câu ngụ ý răn đời, giảng giải, luận bàn. Nhân vật thường là “con nhà quan” hay “con nhà có gia thế” gặp cảnh nhà sa sút hoặc được nuông chiều, trở nên hư đốn hoặc bị gia đình ruồng rẫy mà kiếm kế lập thân. Mặc dù vậy, cũng có một 8 số nét hiện thực, phê phán xã hội đương thời, có cái nhìn xót xa của người chứng kiến và bất phục tùng. Các tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Bá Học: Câu chuyện gia đình (Nam Phong, số 10), Chuyện ông Lý Trắm (Số 13), Có gan làm giàu (23), Câu chuyện nhà sư (số 26), Chuyện cô Chiêu Nhì (Số 43), Câu chuyện một tối tân hôn (số 46)… Nguyễn Mạnh Bổng (hiệu Mân Châu) cũng là một trong những cộng tác viên tích cực của Nam Phong, chuyên đảm trách phần khảo cứu, lược thuật.
Sáng tác của Nguyễn Mạnh Bổng thường thiên về lối phục cổ, đề cao đạo đức Nho gia. Các tác phẩm chính của Nguyễn Mạnh Bổng: Vì nghĩa quên tình (1921), Cái giống đa tình (1921), Tây Hồ Phan Chu Trinh (1926), Anh hàng phở lấy vợ cô đầu (1927), Tiểu sử Tưởng Giới Thạch (1927)…Văn phong của Nguyễn Mạnh Bổng chau chuốt, bóng bảy, cuốn hút người đọc. Những tác giả tiêu biểu của phái tân học Đại diện tiêu biểu của phái tân học bao gồm: Phạm Quỳnh, Đông Hồ (Lâm Tấn Phác), Phạm Duy Tốn… Tác giả đầu tiên phải nhắc đến là Phạm Quỳnh – chủ bút của Nam Phong.Ông chủ bút họ Phạm là người đóng vai trò quan trọng nhất, vừa là “con mắt”, vừa là “linh hồn” của tờ tạp chí này. Phạm Quỳnh lấy hiệu là Thượng Chi và Hồng Nhân, là người viết nhiều nhất trên Nam Phong.Nguyễn Tiến Lãng đã nói rất đúng về Phạm Quỳnh rằng: “Cho nên trước đây cái tên Nam Phong gần như lẫn với tên Thượng Chi, đó cũng là đích đáng vậy.
Phạm Quỳnh đã viết rất nhiều đề tài khác nhau, từ triết học sang văn học, từ chính trị đến xã 9 hội, kinh tế, ngôn ngữ… Như nhiều tác giả đã nhận thấy, giá trị trường cửu của Thượng Chi không ở những bài giới thiệu, học thuật, tư tưởng Âu Châu, nhất là Pháp quốc mà ở chính những bài khảo cứu văn học, ngôn ngữ, văn tự nước nhà. Dĩ nhiên trong khi dịch thuật những tác phẩm nước ngoài, dịch giả đã chịu tìm tòi những danh từ, ngữ vựng để có thể diễn đạt được trong tiếng mẹ đẻ của mình, điểm đó chúng ta cũng đã nhận thấy. Sự làm giàu cho Tiếng Việt là một trong những sự nghiệp văn học của Phạm Quỳnh.Vũ Ngọc Phan cũng nhận xét Phạm Quỳnh là người chủ trương học thuyết “Đọc sách Tây để thâu thái lấy cái tư tưởng, lấy tinh hoa văn hóa Âu Tây, để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết, để chọn lấy cái hay của người mà dung hòa cái hay của mình, ngõ hầu gìn giữ cho cái học của mình không mất bản sắc mà vẫn có cơ tiến hóa được” Ông là người có kiến thức uyên thâm trên nhiều lĩnh vực, xuất thân Tây học nhưng ông rất am hiểu văn hóa, văn học truyền thống, vì vậy các bài viết của ông cũng hết sức phong phú, đa dạng, từ dịch thuật sáng tác đến khảo cứu, lí luận phê bình… Ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp đáng kể, không chỉ cho văn học đương thời mà cho cả quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.Ngay từ số 1 (tháng 7 năm 1917), mục “Văn học Bình luận” đã được thiết kế với bài bình luận đầu tiên của Phạm Quỳnh: Một bộ tiểu thuyết mới: “Nghĩa cái chết”, phê bình tiểu thuyết của nhà văn Pháp Paul Bourget. Sau khi phân tích tác phẩm, tác giả đã hé lộ mục đích của việc bình luận văn học: “Cái mục đích chúng tôi trong những bài bàn này là muốn giới thiệu những sách văn chương hay của Âu Châu cho người nước ta biết… Cho hay cái quốc văn ta mới nở còn non nớt chưa đủ sức mà ra vẫy vùng trong bể ngôn luận.
Bởi vậy mà ta phải luyện cho nó cái tư cách ấy. Bài này cũng tức là một bài luyện tập như thế”. Liền mấy số tiếp sau là các bài: Nghĩa gia tộc (số 2,tr.89-92), Bình phẩm sách mới:tập thơ Một tấm lòng của Đoàn Như Khuê (số 2, tr.123- 125); Bàn về bộ tiểu thuyết Vua bể của Eugène Menchior De Vogue (số 10 3, tr.159-167); Mộng hay mỵ, bình luận về tậpGiấc mộng con của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (số 7, tr.23-25) và Pháp văn tiểu thuyết bình luận: Phục thù cho cha của Paul Bourget, tất cả cũng đều là của tác giả Phạm Quỳnh. Ông quả là một chủ bút uyên bác, “có thể bàn luận một cách vững vàng và sáng suốt bất cứ về một vấn đề gì” [39, 462].
Ngòi bút Phạm Quỳnh thường vượt ra ngoài phạm vi bình luận tác phẩm cụ thể để hướng tới khái quát các vấn đề của lí luận văn học, chẳng hạn, nhân Bàn về bộ tiểu thuyết Vua bể, ông đề cập đến đề tài của một tác phẩm tiểu thuyết: “Cái phạm vi của tiểu thuyết thật là không có nhất định: có khi rất hẹp, mà có khi rất rộng; có khi chỉ chủ một người, chỉ khu trong một nhà, một xóm, có khi gồm cả thế giới” (số 3, tr.159); về bút pháp miêu tả trong tiểu thuyết: “Phàm tiểu thuyết hay phải tả được cái tình trạng trong xã hội cùng cái tâm lý trong người ta. Muốn tả cái tình trạng hiển nhiên, phải có nét bút tài hoa, nhời văn xán lạn, mới diễn được hết những cảnh phiền phức trong đời người, muốn giải cái tâm lý u âm, phải có con mắt sáng suốt, trí nghĩ thâm trầm mới gỡ được hết những mối phân vân trong tâm trí. Hai đằng đều phải có tài mới được, nhưng cái tài trên lưu lộ ra ngoài, mà cái tài dưới uẩn súc ở trong. Lộ ra ngoài thì dễ đẹp, ẩn ở trong mới cảm sâu”.
Những chỉ dẫn này đối với người sáng tác vào thời điểm bấy giờ hẳn có rất nhiều bổ ích! Tác giả thứ hai trong phái cựu học chúng tôi muốn điểm tên là Đông Hồ (Lâm Tấn Phác). Ông là nhà thơ của xứ Nam Kỳ nhưng lại viết rất nhiều bài rất có giá trị cho Nam Phong – tờ báo của xứ Bắc. Theo tâm sự của Đông Hồ chính Nam Phong đã đánh thức nơi ông niềm say mê với quốc văn và quốc ngữ: “Nằm nhà buồn buồn, tôi lấy mấy quyển sách ra xem thì là mấy tập Nam Phong cũ. Tôi giở từng số, xem qua một lượt.
Tôi gặp bài thơ Le Lac của Lamartine dịch ra quốc ngữ của cô Lê Cẩm Nhung và của ông Nguyễn Văn Bông. Tôi để ý đọc, chỉ đọc những bài quốc ngữ thôi, vì bài chữ Tây thì tôi đã 11 thuộc lòng (…) thìra quốc văn có thể diễn nổi những cảnh sắc sáng sủa của thơ Tây, và cũng có thể diễn nổi những ý tứ thâm trầm, những tư tưởng cao thượng của thơ Tàu. Tôi tỉnh ngộ, thấy rằng nước ta còn có chữ, giống ta còn có tiếng nói. Quốc văn ta có nghèo hèn, kém cỏi gì đâu.
Tôi bỏ Pháp văn, quay ra chuyên tâm học chữ quốc ngữ. Cái duyên của tôi với Nam Phong cũng bắt đầu từ đó, mà cái cảm tình của tôi với tiếng nước nhà đằm thắm mặn mà cũng bắt đầu từ đó.” Từ năm 1923 Đông Hồ đã nổi tiếng trên Nam Phong với nhiều bài khảo cứu, tùy bút, kí sự như: Thăm đảo Phú Quốc, Linh Phượng Kí, Phú Đông Hồ, Hà Tiên Mạc thị sử… Với các tác phẩm đó, có thể nói Đông Hồ đã trở thành sử gia của họ Mạc và linh hồn của đất Hà Tiên. Bài kí Thăm đảo Phú Quốc với những trang viết về cảnh hành hình nhà yêu nước Nguyễn Trung Trực đã gây nhiều xúc động trong lòng độc giả. Bên cạnh Giọt lệ thu của Tương Phố, tác phẩm Linh Phượng kí của ông cũng đã làm thổn thức một thế hệ thanh niên thời đó.
Tác phẩm là bài văn khóc vợ rất bi thiết mà Phạm Quỳnh đã có mấy lời giới thiệu: “Nước Tàu kia có bài văn khóc cháu của Hàn Thoái Chi, nước Nam ta há lại không có tập văn khóc vợ của Lâm Trác Chi đó ư?”Hà Tiên Mạc thị sử, theo như nhận định của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, lại là một công trình khảo cứu rất công phu về họ Mạc, dòng họ có công khai phá vùng đất Hà Tiên, Vũ Ngọc Phan cho rằng “Đông Hồ đã chịu ảnh hưởng về đường tả thực, nhưng ông cũng giữ được cái giọng thanh tao của lối thơ cũ. Đó cũng là một điều đặc sắc vậy.” [23, 149] Phạm Duy Tốn, một nhà văn – trí thức tân học khác của Nam Phong mà tên tuổi luôn được nhiều người nhắc tới như một người tiên phong trong việc sáng tác các “Đoản thiên tiểu thuyết”, được coi là những tác phẩm đầu tiên của thể loại truyện ngắn Việt Nam hiện đại: Sống chết mặc bay, Con người sở khanh… Nhà văn đã trở thành một trong những người mở lối cho giai đoạn thành tựu rực rỡ của nền văn học Việt Nam cách tân giai đoạn sau này. Thay 12 vì viết những tác phẩm văn xuôi theo khuôn khổ truyền thống Scharfer cho rằng ông đã “Mở cánh cửa sổ đến một thế giới khác, thế giới không chỉ bao gồm trí thức và các tầng lớp trên, mà cả nông dân và những người kéo xe cần lao.” Các nhà phê bình thời bấy giờ so sánh Phạm Duy Tốn với Nguyễn Bá Học, một nhà văn cùng thời cũng viết về các truyện ngắn. Truyện của Nguyễn Bá Học dù cũng được coi là văn mới, nhưng vẫn được viết theo phong cách trang trọng và cổ điển.
Như Thanh Lãng đã chỉ ra “Nguyễn Bá Học muốn duy trì những nền nếp đạo đức nho giáo cổ truyền và cổ súy cho điều đó thông qua những tác phẩm của mình, còn Phạm Duy Tốn muốn cải cách xã hội, nên các tác phẩm của ông thường có khuynh hướng hòa nhập vào xã hội hiện thực rất rõ ràng, sâu sắc”.Sống chết mặc bay là truyện ngắn đầu tay và nổi tiếng nhất của Phạm Duy Tốn, cũng là truyện ngắn đầu tiên của nền văn học mới Việt Nam, in trên báo Nam Phong tháng 12 năm 1918. Tác phẩm được giới thiệu ấn tượng với người đọc dưới tiêu đề chữ to MỘT LỐI VĂN MỚI và lời giới thiệu đặc biệt của Phạm Quỳnh, câu truyện trải dài suốt ba cột báo. Trong lớp thanh niên Tây học đầu thế kỷ XX, Nguyễn Tiến Lãng nổi tiếng trẻ tuổi tài cao.