chương 1 tác giả đã trình bày khái quát các nội dung chính về dự án đầu tư xây dựng công trình và quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư của dự án. Qua đó có cái nhìn tổng thể về nội dung cần nghiên cứu. Đồng thời, tác giải cũng đã điểm lại tình hình đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi trong thời gian qua. Đây sẽ là những tiền đề cho nội dung nghiên cứu ở các chương sau.
Trạm bơm được sử dụng với mục đích chính là cung cấp nước và tiêu thoát nước nói chung nó đóng vai trò quan trọng trong hệ thống thủy lợi. Khi đầu tư xây dựng trạm bơm chủ đầu tư cần phải có một khoản kinh phí khá lớn. Thực tế, trong quá trình thiết kế và xây dựng, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà có tồn tại và sự cố trong xây dựng trạm bơm như: trạm bơm không hoạt động đúng với hiệu quả thiết kế; xảy ra các sự cố liên quan đến công tác thi công hố móng công trình; Các sự cố lún nền, gây gãy móng, sạt trượt nhà trạm. Các công trình xây dựng nói chung để đạt hiệu quả cao thì yếu tố đầu tiên và quan trong nhất là vấn đề con người.
Trong thực tế để đạt được những yêu cầu nói trên thì cần sự chính xác và thống nhất giữa các đơn vị trực tiếp liên quan đến công trình đó như chủ đầu tư, đơn vị tư vấn thiết kế, đơn vị thi công và giám sát thi công, khâu quản lý vận hành công trình… 20 CHƯƠNG 2. NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP KỸ THUẬT NHẰM BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 2. Hệ thống văn bản pháp lý về quản lý chất lượng công trình xây dựng 2. Một số văn bản pháp lý về quản lý chất lượng công trình xây dựng Quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động của nhà nước, chủ đầu tư, tư vấn và các bên tham gia lĩnh vực xây dựng để công trình sau khi đi vào xây dựng xong bảo đảm đúng mục đích, đúng kỹ thuật và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
Theo từng giai đoạn và các bước xây dựng công trình các bên liên quan sẽ đưa ra các biện pháp quản lý tối ưu để kiểm soát bảo đảm chất lượng công trình theo quy định hiện hành. Hệ thống các văn bản pháp quy trong hoạt động quản lý chất lượng công trình xâydựng đã ban hành trong thời gian qua đã thể hiện rất rõ tầm quan trọng của chất lượng xây dựng công trình, cụ thể: - Chỉ thị số 13/2006/CT-BXD ngày 23/11/2006 của bộ xây dựng về việc tăng cường quản lý chất lượng công trình xây dựng của chủ đầu là tư nhân. - Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của chính phủ quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình - Nghị định số 48/2010/NĐ-CP ngày 07/05/2010 của chính phủ về hợp đồng trong hoạt động xây dựng. - Thông tư số 18/2010/TT-BXD ngày 15/10/2010 của bộ xây dựng quy định việc áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn trong xây dựng.
- Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của chính phủ về quản lý chất lượng công trình - Thông tư số 10/2013/TT-BXD ngày 25/07/2013 của bộ xây dựng quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng công trình xây dựng. - Thông tư số 13/2013/TT-BXD ngày 15/08/2013 của bộ xây dựng quy định thẩm tra, thẩm định và phê duyệt thiết kế xây dựng công trình. - Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 của Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7. Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Nông nghiệp – Thủy lợi.
Quản lý dự án ĐTXDCT được chia thành 03 giai đoạn sau: 2. Quản lý trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư Giai đoạn này gồm các công tác như: - Quản lý công tác lập dự án. - Quản lý công tác thẩm định và phê duyệt dự án. - Quản lý điều chỉnh dự án.
Quản lý trong giai đoạn thực hiện đầu tư Giai đoạn này gồm các công tác như: - Quản lý công tác lựa chọn nhà thầu (Kế hoạch đấu thầu; lựa chọn nhà thầu tư vấn (khảo sát, thiết kế, giám sát thi công, quản lý dự án,…) và nhà thầu thi công (xây lắp công trình và lắp đặt máy móc thiết bị,…). - Quản lý hợp đồng xây dựng (ký kết, thực hiện và thanh, quyết toán hợp đồng xây dựng). - Quản lý công tác an toàn lao động và vệ sinh môi trường. - Quản lý công tác nghiệm thu công việc, bộ phận, thực hiện bảo hành sản phẩm.
- Xử lý các tình huống phát sinh (các tình huống trong lựa chọn nhà thầu; các tình huống thay đổi/điều chỉnh thiết kế, dự toán; bổ sung/điều chỉnh hợp đồng; - Phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật. Quản lý trong giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai thác sử dụng - Quản lý công tác nghiệm thu, bàn giao công trình hoàn thành. - Quản lý công tác thực hiện kết thúc xây dựng công trình, vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng; - Quản lý công tác quyết toán vốn đầu tư, phê duyệt quyết toán. Một số tồn tại của hệ thống văn bản pháp lý về quản lý chất lượng công trình xây dựng 2.
Tính khả thi của một số quy định Đã có nhiều văn bản ban hành để điều chỉnh, hướng dẫn hoạt động các chủ thể tham gia vào công tác đầu tư xây dựng, nhưng trên thực tế tính phù hợp là chưa cao, biểu hiện của nó là việc vận dụng các văn bản còn lúng túng, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn. Tính đồng bộ của các văn bản Việc thiếu đồng bộ giữa các văn bản; ban hành chưa kịp thời, có nội dung chưa nhất quán. Đây là vấn đề gây rất nhiều khó khăn cho người thực hiện, vì vậy để quản lý có hiệu quả cao, thuận tiện cho người thực hiện, thống nhất quản lý một cách đồng bộ về mặt định hướng của các văn bản là hết sức cần thiết. Có thể kể ra 1 ví dụ cụ thể đối với ngành thủy lợi như sau: năm 2002 Bộ NN&PTNT ban hành TCXDVN 285-2002 về các chỉ tiêu thiết kế công trình thủy lợi, trong văn bản này có phân công trình thành 5 cấp (từ cấp 1 đến cấp 5).
Sau đó, nghị định 209/2004/NĐ-CP ra đời phân cấp công trình là 5 cấp (từ cấp đặc biệt đến cấp 4). Tuy nhiên trong suốt nhiều năm liền không có tiêu chuẩn nào hướng dẫn thay thế TCXDVN285-2002 dẫn đến trong quá trình áp dụng còn nhiều lúng túng, gây khó khăn cho các nhà tư vấn thiết kế. Đến tháng 6 năm 2013 mới ban hành QCVN 04-05/2012 thay thế cho TCXDVN 285-2002 và phân cấp công trình theo nghị định 209/2004/NĐ-CP. Tuy nhiên, ngay sau đó nghị định 209/2004/NĐ-CP lại được thay thế bằng nghị định 15/2013/NĐ-CP.
Điều này cho thấy tính đồng bộ giữa các văn bản là chưa cao. Tính cụ thể và chi tiết của các văn bản Các văn bản ban hành thiếu cụ thể và chi tiết, có biên độ vận dụng lớn gây khó khăn cho chủ đầu tư khi thực hiện chức năng quản lý của mình. Với việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật thiếu tính cụ thể và chi tiết sẽ tạo ra nhiều kẽ hở dẫn đến tính hiệu lực và hiệu quả các văn bản là rất hạn chế và gây khó khăn cho người thực hiện cũng như người quản lý. Sự thay đổi thường xuyên của các văn bản Việc điều chỉnh sửa đổi các văn bản nhiều lần trong thời gian ngắn làm ảnh hưởng đến công tác quản lý của chủ đầu tư (công tác quản lý đơn giá, định mức, quản lý chi phí, .) cũng như nhà thầu.
Với đặc điểm của các dự án đầu tư xây dựng là có thời gian thực hiện dài, giá trị lớn trong khi tính ổn định của các văn bản hướng dẫn thực hiện thấp sẽ có ảnh hưởng xấu đến chất lượng và hiệu quả của các dự án đầu tư. Do vậy, các nhà hoạch định chính sách khi ban hành các văn bản mới cần phải có sự phân tích, đánh giá thực trạng và xu hướng phát triển một cách cụ thể, chính xác để bảo đảm tính ổn định và hiệu quả của các văn bản pháp luật. Những tồn tại, hạn chế trong xây dựng công trình thủy lợi. Hiệu quả phục vụ thực hiện nhiệm vụ thiết kế ban đầu của các công trình thủy lợi còn thấp còn chưa đạt yêu cầu, chưa đáp ứng được các nhu cầu hiện tại và tương lai của phát triển kinh tế, xã hội.
Việc tìm ra các nguyên nhân để có giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả mà các công trình mang lại là việc làm hết sức cấp thiết. Theo tác giả luận văn, những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu làm giảm hiệu quả của công trình thủy lợi gồm có: 2. Vấn đề về quy hoạch Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của vùng có nhiều biến động, những chủ trương định hướng phát triển về cây trồng, vật nuôi, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và kinh tế chung của vùng nghiên cứu chưa được xác định chính xác cho tương lai nên gây khó khăn cho quy hoạch xây dựng, nâng cấp công trình thủy lợi phục vụ cho các ngành. Chưa có quy hoạch, bố trí hợp lý để kết hợp nuôi trồng thủy sản trên hồ chứa, trên các ao hồ nhỏ được kênh mương của hồ chứa cấp, thoát nước mà hầu hết đều do dân làm tự phát, chắp vá, thiếu đồng bộ, kém ổn định, không chủ động cho việc cấp thoát nước phục vụ yêu cầu cho các khu nuôi.
Hầu hết các hệ thống thủy lợi bước đầu chỉ có nhiệm vụ tưới cho sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tăng của khu vực dẫn đến yêu cầu nước ngày càng tăng, đòi hỏi công trình thủy lợi không chỉ phục vụ cho nông nghiệp như nhiệm vụ thiết kế ban đầu, mà còn phục vụ cho các ngành kinh tế khác, dẫn tới làm giảm diện tích phục vụ tưới so với thiết kế ban đầu. Vấn đề quản lý của chủ đầu tư. Năng lực quản lý của chủ đầu tư kém.
Xây dựng không tuân thủ theo đúng quy trình quy phạm, tùy tiện giao việc cho những đơn vị không đủ tư cách thiết kế, thi công.