Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về đặc điểm hình thái và giải phẫu của các loài cây thuốc Nguyễn Minh Trí (2009) khi nghiên cứu về hình thái - giải phẫu và sinh trưởng của cây Hương bài ở Thừa Thiên Huế đã chỉ ra rằng: về hình thái, rễ cây là hệ rễ chùm, thân thảo, có phân đốt; lá gồm bẹ lá hình lòng máng bao bọc lấy thân và phiến lá dạng dài, hẹp, lá trưởng thành có răng cưa nhỏ và sắc. Về giải phẫu, rễ cây có biểu bì và ngoại bì tương đối dày, phần nhu mô vỏ gồm các tế bào có kích thước lớn, giữa các tế bào có các khoảng gian bào chứa khí; thân có lớp biểu bì mỏng, phần cương mô nằm dưới biểu bì hình vòng cung, các bó dẫn sắp xếp tản mạn trong khối nhu mô cơ bản; lá có cấu tạo giải phẫu đặc trưng bởi những tế bào biểu bì bao trọn mặt trên và mặt dưới lá, nhu mô đồng hóa là những tế bào hình đa giác, có các khoảng gian bào, các bó dẫn kích thước nhỏ nằm dưới biểu bì, cách nhau bởi những khoảng gian bào [20]. Huỳnh Lời, Trần Thị Bảo Châu, Trần Hùng (2011) đã mô tả chi tiết đặc điểm thực vật học của cây Nữ lang - Valeriana hardwickii Wall., họ Nữ lang (Valerianaceae).
Vi phẫu các bộ phận của cây và đặc điểm bột dược liệu đã được xác định. Các đặc điểm này có thể giúp nhận dạng và phân biệt Nữ lang với các dược liệu khác [14]. Hà Thị Tuyết, Lượng Quang Hiệp, Nguyễn Thị Phú (2013) đã mô tả đặc điểm thực vật, phân tích hoa, quả, hạt và xác định đặc điểm giải phẫu rễ, thân và lá của cây Cát cánh - Platycodon grandiflorum (Jacq. thu thập tại Hà Nội [22].
Hồ Thị Thanh Huyền (2014) đã mô tả chi tiết đặc điểm thực vật và xác định tên khoa học của cây Gạo thu hái tại Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội là Bombax malabaricum DC., thuộc họ Gạo (Bombacaceae). Bên cạnh đó, tác giả còn mô tả đặc điểm vi phẫu thân, lá, đặc điểm bột lá, hoa và vỏ thân của loài nghiên cứu, góp phần tiêu chuẩn hóa dược liệu [10]. 4 c Phạm Quốc Tuấn (2015) trong luận án tiến sĩ của mình đã mô tả đặc điểm thực vật, phân tích hoa, quả, hạt và xác định đặc điểm giải phẫu rễ, thân, thân rễ và lá của cây Lạc tân phụ - Astilbe rivularis Buch. Don, thuộc họ Thường sơn (Saxifragaceae) ở Việt Nam [21].
Nguyễn Trung Tường, Phạm Thanh Kỳ, Nguyễn Xuân Nhiệm (2016) trên cơ sở mô tả đặc điểm hình thái, phân tích hoa, quả, hạt, đối chiếu với khóa phân loại và các tài liệu thực vật đã công bố, đã xác định tên khoa học mẫu cây Thuốc thượng thu hái ở xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng là Phaeanthus vietnamensis Ban, thuộc họ Na - Annonaceae. Ngoài ra, nhóm tác giả còn xác định đặc điểm vi phẫu và đặc điểm của bột rễ, thân, lá góp phần tiêu chuẩn hóa dược liệu [23]. Đoàn Thái Hưng, Nghiêm Đức Trọng, Nguyễn Quỳnh Nga, Mai Thị Phượng, Nguyễn Minh Khởi, Phương Thiện Thương (2016) đã xác định được tên khoa học của mẫu Viễn chí hoa vàng thu hái tại Sa Pa, tỉnh Lào Cai là Polygala arillata Buch. Don, thuộc họ Viễn chí (Polygalaceae).
Đồng thời, nhóm tác giả đã mô tả được đặc điểm hình thái rễ, thân, lá, hoa, quả; đặc điểm giải phẫu rễ, thân, lá của mẫu dược liệu. Các kết quả nghiên cứu này là cơ sở về phân loại cho các nghiên cứu tiếp theo về hóa thực vật, tác dụng sinh học và tiêu chuẩn hóa vị thuốc Viễn chí hoa vàng [11]. Những nghiên cứu về tái sinh của cây thuốc Võ Đại Hải (2010) khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên loài vối thuốc (Schima wallichii Choisy) ở các trạng thái rừng tự nhiên phục hồi tại huyện Lục Ngạn và Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã xác định: vối thuốc là loài cây bản địa, gỗ lớn, đa tác dụng, có khả năng tái sinh tự nhiên từ chồi và hạt rất tốt. Vối thuốc là loài có khả năng tái sinh rất mạnh với hệ số tổ thành có nơi lên tới 5,3 đối với trường hợp Vối thuốc tái sinh dưới tán rừng trạng thái IIa và biến động từ 2,1-3,0 đối với trạng thái rừng IIb; tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng trung bình đạt 56%; tỷ lệ cây Vối thuốc tái sinh có chất lượng trung bình và tốt chiếm 5 c tỷ lệ rất cao từ 86%-100%; cây tái sinh có chiều cao dưới 1m chiếm tỷ lệ 48%- 53%; mạng hình cây tái sinh có phân bố đều [7].
Lê Đình Phương (2013) trong “ Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm loài Giổi ăn hạt (Michelia tonkinensis A.) tại Vườn quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa” đã đi đến kết luận rằng: số loài tái sinh trong các ô tiêu chuẩn (OTC) từ 16-33 loài. OTC 2 có số loài nhiều nhất (33 loài), ít nhất là OTC 4 (16 loài). Số loài tham gia công thức tổ thành ở OTC 1, OTC 3 và OTC 4 lần lượt là 3, 4 và 6 loài, ít hơn số loài tham gia công thức tổ thành OTC 2 (có 15 loài). Trong lớp cây tái sinh, Giổi ăn hạt chỉ có mặt ở công thức tổ thành OTC 4.
Điều này khẳng định sự thiếu hụt của Giổi ăn hạt trong lớp cây tái sinh nên khả năng bổ sung cá thể loài Giổi ăn hạt cho tầng cây cao là rất hạn chế. Tỷ lệ cây tái sinh có chất lượng tốt và trung bình dao động từ 61,9%-88,21%. Tỷ lệ cây tái sinh có phẩm chất xấu chiếm tỷ lệ khá cao, dao động từ 11,39%-38,1%. Về nguồn gốc cây tái sinh: cây tái sinh có nguồn gốc từ hạt chiếm chủ yếu, dao động từ 78,89%-91,72%, cây tái sinh có nguồn gốc từ chồi chiếm tỷ lệ thấp, dao động từ 8,28%-21,11%.
Đối với loài Giổi ăn hạt, trong các ô nghiên cứu chỉ phát hiện cây tái sinh từ hạt không có tái sinh chồi và chất lượng cây tái sinh là khá tốt. Tuy nhiên, trong các tuyến điều tra, tác giả phát hiện Giổi tái sinh chồi từ gốc chặt rất tốt. Tất cả các gốc chặt đều có cây chồi tái sinh. Ở một số gốc chặt từ năm 2011 đến nay cây chồi đã cao đến 3m.
Điều này cho thấy khả năng tái sinh chồi của Giổi ăn hạt là rất tốt, mở ra triển vọng trong việc nhân giống Giổi ăn hạt bằng phương pháp giâm hom và xúc tiến tái sinh chồi cho loài cây này [16]. Hoàng Lộc (2017) đã nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của cây Lười ươi (Scaphium macropodim) dưới tán rừng kín thường xanh trên núi thấp tại vùng đệm Vườn quốc gia Phước Bình, tỉnh Ninh Thuận. Đặc điểm tái sinh của cây Lười ươi là: mật độ cây tái sinh 14. Trong thành phần cây tái sinh, cây Lười ươi 4.875 cây chiếm 33,91%, cây mục đích gồm những cây có 6 c giá trị: Giổi, Sao, Gõ, Dẻ, Dó trầm, Bời Lời.375 cây chiếm 44,35%, các cây khác như Trâm, Cày.
Trong tổng số 4.875 cây tái sinh/ha: số cây có chiều cao (H) ≤ 1m là 2.250, H từ: 2- ≤ 3m là 500 và H > 3m là 375 cây. Cây có chất lượng tốt và trung bình tương đối cao là 3.500 cây, chiếm tỷ lệ 71,79%. Phân bố cây tái sinh của cây Lười ươi trên mặt đất là phân bố cụm. Kiểu phân bố này có mối liên hệ với kiểu cách phát tán quả trong phạm vi hình chiếu tán cây mẹ, sự không đồng nhất của môi trường cũng như sự phát triển mạnh của cây cỏ và cây bụi [33].
Những nghiên cứu về hoạt tính kháng khuẩn của các loài cây thuốc Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu về khả năng kháng khuẩn của các loài cây hoang dại dùng làm thuốc. Trên thế giới Bose và cộng sự (2007) cho rằng cao ethanol và cao phân đoạn diethyl ether từ cây Màn màn tím (Cleome rutidosperma DC.) có tác dụng kháng khuẩn và kháng nấm trên một số chủng: Aspergillus niger, Bacillus polymexia, Bacillus subtilis, Candida albicans, Pseudomonas aerugenosa, Penicillum notatum, Salmonella typhi, Shigella flexiniry, Staphylococcus aureus, Streptococcus faecalis và Vibrio cholerae [25]. Cũng trong năm 2007, Bose và cộng sự đã chỉ ra rằng, cao chiết bằng dung môi nước từ cây Màn màn tím có tác dụng lợi tiểu, có tác dụng kháng vi khuẩn Gram dương và Gram âm tùy thuộc nồng độ [24]. Mondal và cộng sự (2009) cũng cho rằng, cao rễ cây Màn màn tím có khả năng giảm đau, kháng viêm và hạ sốt [30].
Dey và cộng sự (2009) cho rằng cao methanol thể hiện khả năng ức chế khối u ung thư da và ung thư dạ dày trên mô hình thực nghiệm [27]. Chakraborty và cộng sự (2010) cũng kết luận rằng, cao ethanol và cao nước cây Màn màn tím thể hiện hoạt tính ức chế gốc tự do in vitro qua các phương pháp thử DPPH, nitric oxid và gốc hydroxyl [26]. Ở Việt Nam Huỳnh Kim Diệu (2011) đã thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn của lá cây Tràm - Melaleuca leucadendra (L. trên 8 chủng vi khuẩn.
Kết quả cho thấy, dịch chiết có hoạt tính mạnh nhất đối với hai chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus và Streptococcus faecalis; tiếp đến là Aeromonas hydrophila, Edwardsiella ictalur, Edwardsiella tarda và Pseudomonas aeruginosa; không có hoạt tính hoặc có hoạt tính rất yếu trên chủng vi khuẩn Escherichia coli và Salmonella spp [6]. Võ Thị Mai Hương, Trần Thanh Phong (2013) đã chỉ ra rằng, các chế phẩm CFm, CFh, CFe , CFb, CT, FT (flavonoid tổng số) đều thể hiện hoạt tính kháng khuẩn mạnh với các loại vi sinh vật kiểm định. Trong đó, hoạt tính mạnh nhất là hai chủng Staphylococcus aureus và Salmonella typhi [12]. Đào Thị Kim Anh, Trương Thị Đẹp, Nguyễn Tú Anh (2014) đã kết luận được rằng, cây Lục bình sống ở môi trường nước đứng có hoạt tính kháng khuẩn tốt hơn so với ở môi trường nước chảy.
Ở cây Lục bình, căn hành (thân, rễ) có thể là bộ phận chứa nhiều hoạt chất kháng khuẩn nhất và có phổ kháng khuẩn tương đối rộng trên cả vi khuẩn Gram (+) và Gram (-). Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy cao lục bình có khả năng kháng vi khuẩn Gram (+) tốt hơn kháng vi khuẩn Gram (-), ngay cả với chủng MRSA (Tụ cầu vàng kháng methicilline (Methicillin - Resistant Staphylococcus aureus)). Staphylococcus aureus là chủng vi khuẩn nhạy cảm nhất, trong khi Escherichia coli lại là chủng có độ nhạy thấp nhất, thấp hơn cả Pseudomonas aeruginosa (chủng có tỉ lệ đề kháng cao với nhiều loại kháng sinh trong lâm sàng) [1]. Nguyễn Thị Hằng, Trần Thị Thanh Xuân (2015) đã xác định được cao nước và cao ethanol của loài Tầm gửi năm nhị (Dendrophthoe pentandra (L., ký sinh trên các cây chủ Cóc vàng (Lumnitzera racemosa Willd.), cây cây Giá (Excoecaria agallocha L.