Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam được xếp thứ 16 trên thế giới về mức độ đa dạng sinh học với hệ thống thảm thực vật rừng phong phú. Tuy nhiên, dưới tác động của các hoạt động khai thác lâm sản và tập quán canh tác nương rẫy kéo dài, nhiều diện tích rừng tự nhiên đã bị suy thoái nghiêm trọng, làm suy giảm trữ lượng gỗ và thu hẹp vùng phân bố của các loài cây bản địa có giá trị kinh tế cao.

Xã Sảng Mộc, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên sở hữu tổng diện tích đất lâm nghiệp là 9.107,74 ha, trong đó rừng đặc dụng chiếm 1.904,55 ha (thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng), rừng phòng hộ chiếm 3.014,63 ha và rừng sản xuất chiếm 4.188,56 ha. Địa hình khu vực này đặc trưng bởi hệ thống núi đá vôi xen lẫn núi đất bị chia cắt mạnh, tạo nên môi trường sống phù hợp cho loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl, thuộc họ Hoa hồng – Rosaceae) ở đai độ cao tự nhiên. Dù từng có trữ lượng phong phú, nhưng những năm gần đây, các cá thể Xoan đào gỗ lớn tại địa phương hầu như đã bị khai thác cạn kiệt, diện tích phân bố tự nhiên bị thu hẹp đáng kể. Bên cạnh đó, đời sống người dân địa phương còn nhiều khó khăn, nhận thức về công tác bảo vệ và tái sinh loài cây này còn hạn chế, dẫn đến nguy cơ suy kiệt nguồn gen bản địa.

Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

  1. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định được một số đặc điểm cấu trúc lâm phần và đặc tính tái sinh tự nhiên của loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại xã Sảng Mộc, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, làm cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn, phục hồi và phát triển kinh doanh rừng gỗ lớn.
  2. Đối tượng nghiên cứu: Loài cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) cùng các loài cây gỗ đi kèm trong quần xã thảm thực vật rừng.
  3. Phạm vi không gian: Các trạng thái rừng thứ sinh có loài Xoan đào phân bố tự nhiên tại xã Sảng Mộc, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
  4. Phạm vi thời gian: Số liệu điều tra thực địa được thu thập từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và mô hình sinh thái

  • Quan điểm sinh thái phát sinh quần thể: Áp dụng luận điểm của Thái Văn Trừng (1978, 2000) về thảm thực vật rừng nhiệt đới như một hệ thống phản chiếu điều kiện hoàn cảnh tự nhiên; sự phân tầng và diễn thế rừng thứ sinh sau nương rẫy.
  • Lý thuyết cấu trúc rừng mưa nhiệt đới: Kế thừa các quan điểm của P. Odum (1971), P. Richards (1959, 1968), Baur (1964, 1976), Lamprecht (1969) và Van Steenis (1956) về cấu trúc tầng tán, dạng sống, mối quan hệ cạnh tranh giữa tầng cây gỗ với thảm tươi cây bụi và cơ chế tái sinh vệt của cây ưa sáng.
  • Mô hình toán học lâm sinh: Kế thừa phương pháp nắn phân bố thực nghiệm số cây theo đường kính và chiều cao của Đồng Sĩ Hiền (1974), Nguyễn Hải Tuất (1982, 1986), Trần Văn Con (1991) và Lê Sáu (1995).
  • Chỉ số tổ thành: Sử dụng công thức tổ thành của Curtis, J. T. (1959) dựa trên chỉ số giá trị quan trọng: $$IV_i% = \frac{N_i% + G_i%}{2}$$ (Trong đó $N_i%$ là tỷ lệ phần trăm số cá thể, $G_i%$ là tỷ lệ phần trăm tiết diện ngang của loài $i$ so với tổng số trong ô tiêu chuẩn).
  • Tiêu chuẩn sinh thái: Dựa theo Daniel Marmillod (loài có $IV% > 5%$ có ý nghĩa sinh thái trong lâm phần) và Thái Văn Trừng (nhóm loài chiếm trên $50%$ tổng số cá thể tầng cây cao là nhóm ưu thế).

Phương pháp nghiên cứu thực địa

Nghiên cứu áp dụng phương pháp điều tra thực nghiệm sinh thái thông qua hệ thống 9 ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời và bán định vị có diện tích $2.000\text{ m}^2$ ($40\text{ m} \times 50\text{ m}$), tổng diện tích điều tra đạt $18.000\text{ m}^2$, bố trí đều trên 3 dạng địa hình: chân đồi (3 ô), sườn đồi (3 ô) và đỉnh đồi (3 ô) tại trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy (trạng thái IIA).

  • Điều tra tầng cây gỗ: Đo đếm toàn bộ các cây có đường kính ngang ngực $D_{1.3} \ge 6\text{ cm}$ bằng thước kẹp kính hoặc thước dây; đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) và chiều cao dưới cành ($H_{dc}$) bằng sào chuyên dụng (sai số $\pm 10\text{ cm}$); đo đường kính tán ($D_t$) theo hai hướng Đông – Tây và Nam – Bắc; phân loại phẩm chất cây theo 3 cấp: Tốt (T), Trung bình (TB), Xấu (X).
  • Điều tra cây bụi, thảm tươi và dây leo: Xác định thành phần loài, độ che phủ mặt đất theo thang phân cấp độ nhiều của Drude cải tiến (Soc, Cop1, Cop2, Cop3, Sp, Sol, Un, Gr).
  • Mô tả cấu trúc tầng thứ: Phân định 4 tầng thẳng đứng gồm tầng vượt tán/nhô ($A_1$), tầng tán chính ($A_2$), tầng cây bụi ($B$) và tầng thảm tươi/cỏ quyết ($C$). Đo độ tàn che tại 5 vị trí trong mỗi OTC bằng máy đo chuyên dụng Spherical Densiometer Model-A.
  • Điều tra đất phẫu diện: Đào và mô tả phẫu diện đất rừng đại diện theo các tầng phát sinh ($A_0, A_1, A_2, AB, B, BC, C$); xác định độ sâu tầng đất; màu sắc đất ở trạng thái ẩm; thành phần cơ giới bằng phương pháp vê giun tại hiện trường; kết cấu đất; độ chặt đất (xốp, hơi chặt, chặt, rất chặt); xác định tỷ lệ đá lẫn và rễ cây bằng phương pháp lấy mẫu trộn tại 3 vị trí đường chéo.
  • Điều tra tầng cây tái sinh: Lập các ô dạng bản ($ODB$) trong ô tiêu chuẩn; đếm số lượng cá thể, xác định tên loài, phân cấp chiều cao ($< 0.3\text{ m}, 0.3 - 0.5\text{ m}, 0.5 - 1.0\text{ m}, 1.0 - 1.5\text{ m}, 1.5 - 2.0\text{ m}, 2.0 - 2.5\text{ m}, 2.5 - 3.0\text{ m}, > 3.0\text{ m}$), nguồn gốc (chồi/hạt) và đánh giá chất lượng cây con (tốt, trung bình, xấu).

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của việc nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng đối với công tác điều chế, kinh doanh lâm nghiệp bền vững; hiện trạng tài nguyên rừng và sức ép khai thác cạn kiệt loài Xoan đào tại xã Sảng Mộc, huyện Võ Nhai; xác định mục tiêu và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của công trình.

Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế về cấu trúc thảm thực vật, cấu trúc tầng thứ, các quy luật phân bố số cây theo đường kính ($N/D$), chiều cao ($N/H$) và quá trình tái sinh tự nhiên dưới tán rừng. Tổng quan đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và giá trị kinh tế của cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl, họ Rosaceae – gỗ có tỷ trọng trung bình 0,518, màu đỏ nhạt, sinh trưởng nhanh). Tổng quan điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội xã Sảng Mộc (tọa độ $21^\circ 54'29''\text{B} - 106^\circ 00'11''\text{Đ}$; diện tích núi đá vôi chiếm $72%$; đất đỏ vàng trên đá sét $Fsy$ chiếm $91,19%$; dân số 2.633 người thuộc 4 dân tộc Tày, Dao, Hmông, Kinh).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Quy định rõ ràng đối tượng, địa bàn (xã Sảng Mộc), thời gian thực hiện (tháng 8 – 12/2015) và nội dung nghiên cứu. Trình bày chi tiết phương pháp lập 9 ô tiêu chuẩn $2.000\text{ m}^2$, các tiêu chuẩn đo đếm lâm học tầng cây gỗ, thảm tươi cây bụi, quy trình mô tả phẫu diện đất và các công thức toán thống kê tính chỉ số $IV%$, mật độ $N/\text{ha}$, công thức tổ thành cây tái sinh.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm điều tra tại 9 ô tiêu chuẩn về:

  • Danh mục và thông tin cơ bản của các OTC (độ cao từ 290 m đến 425 m, trạng thái rừng IIA, số lượng cá thể Xoan đào dao động 1 – 8 cây/OTC, số loài đi kèm dao động 8 – 33 loài/OTC).
  • Tổ thành loài và mật độ tầng cây gỗ ở 3 vị trí địa hình (chân, sườn, đỉnh).
  • Mô tả cấu trúc tầng thứ (4 tầng $A_1, A_2, B, C$) và đặc điểm dây leo thảm tươi.
  • Hình thái và lý tính phẫu diện đất tại 3 vị trí địa hình (PD7 ở chân, PD4 ở sườn, PD3 ở đỉnh).
  • Quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính ($N/D_{1.3}$) và theo cấp chiều cao ($N/H_{vn}$) của toàn lâm phần và riêng loài Xoan đào.
  • Đặc điểm tầng cây tái sinh: mật độ, tổ thành, phân bố số cây theo cấp chiều cao, chất lượng và nguồn gốc tái sinh.
  • Đề xuất các nhóm giải pháp kỹ thuật lâm sinh và quản lý bảo vệ rừng.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp các kết luận rút ra từ kết quả nghiên cứu về cấu trúc lâm phần, điều kiện lập địa và khả năng tái sinh của Xoan đào; nêu các kiến nghị phục vụ công tác quy hoạch, bảo tồn nguồn gen và gây trồng rừng gỗ lớn tại địa phương.


Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

1. Thông tin cấu trúc lâm phần tầng cây gỗ ($D_{1.3} \ge 6\text{ cm}$)

Loài Xoan đào phân bố chủ yếu ở trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy (trạng thái IIA) trên cả 3 dạng địa hình ở độ cao từ 290 m đến 425 m. Tầng cây gỗ có cấu trúc 4 tầng thẳng đứng: tầng $A_1$ (nhô, cao 20 – 25 m gồm Dẻ gai, Xoan đào, Sảng...), tầng $A_2$ (tán chính, cao 10 – 20 m gồm Sến mật, Trám trắng, Dẻ gai, Xoan đào, Xoan nhừ...), tầng $B$ (cây bụi: Hoàng bì, Ba chạc, Xuyên tiêu, Mua thường...) và tầng $C$ (thảm tươi cao 2 – 3 m: Giềng gió, Sa nhân, Nứa bắc bộ, Quyết tổ chim...).

Dạng địa hình Độ cao (m) Mật độ lâm phần (cây/ha) Mật độ trung bình (cây/ha) Số cá thể Xoan đào/OTC Số loài xuất hiện/OTC Nhóm loài chiếm ưu thế chính
Chân đồi 290 – 310 245 – 475 360 1 – 2 12 – 21 Xuyên, Thẩu tấu, Cứt ngựa
Sườn đồi 355 – 390 235 – 570 402 1 – 8 8 – 33 Thẩu tấu, Xuyên, Cứt ngựa
Đỉnh đồi 400 – 425 305 – 610 457 2 – 3 24 – 33 Thẩu tấu, Xuyên, Cứt ngựa

2. Đặc điểm phẫu diện đất tại các vị trí điều tra

Đất tại khu vực nghiên cứu có nguồn gốc phát triển trên đá sét, độ phì phụ thuộc vào lớp thảm thực vật che phủ bên trên.

Vị trí Phẫu diện Độ dốc Các tầng đất nhận diện Màu sắc chủ đạo Thành phần cơ giới Độ chặt Tỷ lệ đá lẫn (%)
Chân PD7 $27^\circ$ $A_0 (0\text{-}6\text{cm}), A_1 (6\text{-}16\text{cm}), A_2 (16\text{-}30\text{cm}), B (30\text{-}75\text{cm}), BC (75\text{-}100\text{cm})$ Xám $\rightarrow$ Xám nhạt $\rightarrow$ Vàng $\rightarrow$ Vàng đỏ $\rightarrow$ Đỏ nhạt Thịt nhẹ tầng mặt, thịt nặng tầng sâu Xốp $\rightarrow$ Hơi chặt $\rightarrow$ Chặt $\rightarrow$ Rất chặt 7
Sườn PD4 $31^\circ$ $A_0 (0\text{-}3\text{cm}), A_1 (3\text{-}21\text{cm}), AB (21\text{-}32\text{cm}), B (32\text{-}67\text{cm}), C (67\text{-}100\text{cm})$ Nâu nhạt $\rightarrow$ Nâu vàng $\rightarrow$ Vàng nhạt $\rightarrow$ Vàng đậm $\rightarrow$ Vàng đỏ Thịt nhẹ $\rightarrow$ Thịt TB $\rightarrow$ Thịt nặng Xốp $\rightarrow$ Hơi chặt $\rightarrow$ Chặt $\rightarrow$ Rất chặt 6
Đỉnh PD3 $35^\circ$ $A_1 (0\text{-}4\text{cm}), A_2 (4\text{-}18\text{cm}), AB (18\text{-}27\text{cm}), B (27\text{-}56\text{cm}), C (56\text{-}100\text{cm})$ Nâu $\rightarrow$ Nâu nhạt $\rightarrow$ Nâu vàng nhạt $\rightarrow$ Vàng nhạt $\rightarrow$ Vàng đậm Thịt nhẹ $\rightarrow$ Thịt TB $\rightarrow$ Thịt nặng Tơi xốp $\rightarrow$ Xốp $\rightarrow$ Hơi chặt $\rightarrow$ Chặt 5

3. Quy luật phân bố đường kính ($N/D_{1.3}$) và chiều cao ($N/H_{vn}$)

  • Phân bố theo đường kính ($N/D_{1.3}$):
    • Toàn lâm phần: Phân bố có dạng đường cong giảm hoặc đỉnh lệch trái. Số lượng cây tập trung cao nhất ở cấp đường kính nhỏ $10 - 15\text{ cm}$ (vị trí chân có 77 cây, sườn có 75 cây, đỉnh có 84 cây), sau đó giảm nhanh ở các cấp kính lớn và chỉ còn 1 – 2 cây ở cấp $50 - 60\text{ cm}$.
    • Loài Xoan đào: Số lượng cá thể phân bố hạn chế, tập trung chủ yếu ở các cấp kính trung bình từ $25 - 35\text{ cm}$ (vị trí chân có 2 cây ở cấp $30 - 35\text{ cm}$; vị trí sườn và đỉnh tập trung 6 cây ở cấp $25 - 35\text{ cm}$), không xuất hiện ở các cấp kính nhỏ dưới $20\text{ cm}$ trong tầng cây gỗ.
  • Phân bố theo chiều cao ($N/H_{vn}$):
    • Toàn lâm phần: Có dạng một đỉnh ở giữa hoặc đỉnh lệch trái. Mật độ cây tập trung nhiều nhất ở cấp chiều cao $5 - 10\text{ m}$ (chân: 131 cây, sườn: 137 cây, đỉnh: 132 cây); số cây giảm dần khi chiều cao $> 20\text{ m}$.
    • Loài Xoan đào: Tập trung tại cấp chiều cao $10 - 15\text{ m}$ và $15 - 20\text{ m}$ (chân có 3 cây ở cấp $15 - 20\text{ m}$; sườn có 3 cây ở cấp $10 - 15\text{ m}$; đỉnh có 5 cây ở cấp $10 - 15\text{ m}$).

4. Đặc điểm tầng cây tái sinh tự nhiên

  • Tái sinh tự nhiên có tính đa dạng loài tương đối cao (biến động 3 – 15 loài/OTC). Các loài chiếm ưu thế tái sinh chủ yếu là cây tiên phong ưa sáng: Thẩu tấu, Xuyên, Vông, Chẳn, Cứt ngựa.
  • Mật độ tái sinh chung toàn lâm phần tăng dần từ chân lên đỉnh: chân đồi đạt $1.005\text{ cây/ha}$, sườn đồi đạt $1.220\text{ cây/ha}$, đỉnh đồi đạt $1.285\text{ cây/ha}$.
  • Tái sinh của riêng loài Xoan đào phân hóa rõ rệt: vị trí sườn đồi đạt mật độ cao nhất ($480\text{ cây/ha}$), tiếp đến đỉnh đồi ($160\text{ cây/ha}$) và thấp nhất ở chân đồi ($80\text{ cây/ha}$).
  • Phân bố chiều cao cây tái sinh Xoan đào: ở vị trí sườn tập trung nhiều nhất ở cấp $0.3 - 0.5\text{ m}$ ($320\text{ cây/ha}$), cấp $0.5 - 1.0\text{ m}$ ($45\text{ cây/ha}$) và cấp $< 0.3\text{ m}$ ($86\text{ cây/ha}$); ở vị trí đỉnh chỉ xuất hiện ở cấp $0.3 - 0.5\text{ m}$ ($160\text{ cây/ha}$); ở vị trí chân chỉ ghi nhận ở cấp $< 0.3\text{ m}$ ($80\text{ cây/ha}$).

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Giải pháp kỹ thuật lâm sinh:
    • Bảo vệ nghiêm ngặt các cây mẹ Xoan đào hiện còn trong lâm phần để tạo nguồn gieo giống tự nhiên.
    • Áp dụng biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp làm giàu rừng; tiến hành phát dọn dây leo, cây bụi chèn ép và điều chỉnh độ tàn che quanh các vệt tái sinh Xoan đào nhằm cung cấp đủ ánh sáng cho cây con sinh trưởng.
    • Tổ chức thu hái hạt giống phục vụ gieo ươm nhân tạo; tận dụng bứng tỉa cây con tái sinh tự nhiên ở những vị trí mật độ cao (khu vực sườn đồi) để trồng dặm hoặc gây trồng rừng thuần loài với mật độ thích hợp (khoảng $1.100\text{ cây/ha}$).
  • Giải pháp quản lý:
    • Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát lâm sản của lực lượng Kiểm lâm và chính quyền xã nhằm ngăn chặn khai thác trộm gỗ Xoan đào.
    • Đẩy mạnh giao đất giao rừng, gắn quyền lợi kinh tế của cộng đồng dân cư (các dân tộc Tày, Dao, Hmông) với trách nhiệm bảo vệ tài nguyên rừng.
    • Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về giá trị bảo tồn và hiệu quả kinh tế lâu dài của cây Xoan đào.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã cung cấp bộ dữ liệu thực địa chi tiết và có hệ thống về cấu trúc tầng cây gỗ, hình thái phẫu diện đất và thực trạng tái sinh tự nhiên của loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại đai núi đá vôi huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Đây là nguồn cứ liệu thực nghiệm hỗ trợ các nhà quản lý lâm nghiệp địa phương đánh giá tiềm năng phục hồi của trạng thái rừng IIA.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi không gian của đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi 9 ô tiêu chuẩn trên trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy (trạng thái IIA) tại một xã (Sảng Mộc), chưa bao quát hết các trạng thái rừng tự nhiên khác (như rừng giàu, rừng trung bình núi đá) trong toàn bộ Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng.
  • Thời gian nghiên cứu thực địa ngắn (5 tháng, từ tháng 8 đến tháng 12/2015), chưa theo dõi được biến động sinh trưởng và tỷ lệ sống sót của cây tái sinh qua các mùa trong năm.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi điều tra sang các trạng thái rừng và các đai độ cao khác nhau trên toàn vùng núi đá vôi phía Bắc.
  • Tiến hành các nghiên cứu chuyên sâu về sinh lý nảy mầm của hạt giống Xoan đào, thử nghiệm các biện pháp kỹ thuật gieo ươm trong vườn ươm và xây dựng các mô hình khảo nghiệm trồng rừng gỗ lớn bản địa.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo trực tiếp cho:

  1. Sinh viên, học viên và giảng viên: Chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái thực vật tại các trường đào tạo nông lâm nghiệp khi thực hiện phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn, phân tích tổ thành sinh thái theo Curtis và mô tả phẫu diện đất rừng.
  2. Cán bộ quản lý lâm nghiệp và Ban quản lý rừng đặc dụng: Cán bộ Kiểm lâm huyện Võ Nhai và Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng trong việc xây dựng phương án khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, bảo tồn loài Pygeum arboreum Endl.
  3. Phần có giá trị tham khảo cao nhất: Phương pháp kết hợp phân tích tương quan cấu trúc lâm phần ($N/D_{1.3}, N/H_{vn}$) với phân loại phẫu diện đất và bảng số liệu định lượng mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao trên 3 dạng địa hình.

Câu hỏi thường gặp

1. Loài Xoan đào trong nghiên cứu phân bố ở trạng thái rừng và đai độ cao nào tại xã Sảng Mộc?

Theo số liệu điều tra tại 9 ô tiêu chuẩn, loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) phân bố chủ yếu ở trạng thái rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy (trạng thái IIA), tại dải độ cao thực tế từ 290 m đến 425 m so với mực nước biển trên cả 3 dạng địa hình chân đồi, sườn đồi và đỉnh đồi.

2. Cấu trúc tầng tán thẳng đứng của rừng có loài Xoan đào tại khu vực nghiên cứu gồm những tầng nào?

Lâm phần có cấu trúc 4 tầng thẳng đứng:

  • Tầng $A_1$ (Tầng vượt tán/nhô): Chiều cao 20 – 25 m, gồm các loài Dẻ gai (Castanopsis chinensis), Xoan đào (Pygeum arboreum Endl), Sảng (Sterculia lanceolata).
  • Tầng $A_2$ (Tầng tán chính): Chiều cao 10 – 20 m, gồm Sến mật, Trám trắng (Canarium album), Dẻ gai, Xoan đào, Xoan nhừ (Spondias mangifera).
  • Tầng $B$ (Tầng cây bụi): Gồm Hoàng bì, Ba chạc, Xuyên tiêu, Dứa dại, Mua thường, Đu đủ rừng...
  • Tầng $C$ (Tầng thảm tươi/cỏ quyết): Chiều cao 2 – 3 m, gồm Giềng gió, Sa nhân, Nứa bắc bộ, Quyết tổ chim, Dớn...

3. Quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính ($N/D_{1.3}$) của riêng loài Xoan đào có đặc điểm gì?

Khác với quy luật giảm liên tục của toàn lâm phần (tập trung ở cấp $10 - 15\text{ cm}$), các cá thể Xoan đào tầng gỗ chỉ xuất hiện ở các cấp đường kính trung bình từ $25\text{ cm}$ đến $45\text{ cm}$, tập trung cao nhất ở cấp $25 - 35\text{ cm}$ (vị trí sườn và đỉnh có 6 cây, chân có 2 cây), hoàn toàn vắng bóng ở các cấp đường kính nhỏ ($< 20\text{ cm}$).

4. Mật độ và phân bố chiều cao của cây Xoan đào tái sinh khác nhau như thế nào giữa các dạng địa hình?

Mật độ tái sinh của Xoan đào đạt cao nhất ở vị trí sườn đồi ($480\text{ cây/ha}$), tiếp đến là đỉnh đồi ($160\text{ cây/ha}$) và thấp nhất ở chân đồi ($80\text{ cây/ha}$). Về chiều cao, tại sườn đồi cây tái sinh xuất hiện ở nhiều cấp chiều cao (nhiều nhất ở cấp $0.3 - 0.5\text{ m}$ với $320\text{ cây/ha}$); tại đỉnh đồi cây con chỉ xuất hiện ở cấp $0.3 - 0.5\text{ m}$ ($160\text{ cây/ha}$); tại chân đồi cây con chỉ có ở cấp $< 0.3\text{ m}$ ($80\text{ cây/ha}$).

5. Đặc điểm lý tính đất phẫu diện tại 3 vị trí chân, sườn và đỉnh đồi có gì khác biệt?

  • Vị trí chân ($27^\circ$, PD7): Có các tầng $A_0, A_1, A_2, B, BC$; đất thịt nhẹ tầng mặt chuyển dần sang thịt nặng ở tầng sâu; độ chặt từ xốp đến rất chặt; tỷ lệ đá lẫn cao nhất ($7%$).
  • Vị trí sườn ($31^\circ$, PD4): Đủ các tầng $A_0, A_1, AB, B, C$; đất thịt nhẹ đến thịt trung bình và thịt nặng; tỷ lệ đá lẫn là $6%$.
  • Vị trí đỉnh ($35^\circ$, PD3): Gồm các tầng $A_1, A_2, AB, B, C$; đất tơi xốp ở tầng mặt ($0 - 4\text{ cm}$), chuyển sang thịt trung bình và thịt nặng ở tầng $B, C$; tỷ lệ đá lẫn thấp nhất ($5%$).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Triệu Văn Hàm đã phản ánh tương đối toàn diện các đặc trưng cấu trúc lâm phần, điều kiện lập địa và thực trạng tái sinh của loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy (trạng thái IIA) ở xã Sảng Mộc, huyện Võ Nhai. Kết quả nghiên cứu chứng minh mật độ cây gỗ lớn của loài bị suy giảm mạnh do áp lực khai thác, song tiềm năng phục hồi tự nhiên vẫn thể hiện rõ nét qua mật độ cây tái sinh đạt $480\text{ cây/ha}$ tại khu vực sườn đồi. Các phát hiện thực nghiệm này cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho việc triển khai các biện pháp xúc tiến tái sinh kết hợp làm giàu rừng và quy hoạch gây trồng rừng gỗ lớn bản địa tại tỉnh Thái Nguyên.